Thứ Bảy, 5 tháng 12, 2015

Chúng ta thường thấy những lá cờ «thần» ngũ sắc và có hình dạng khác nhau vào những dịp lễ hội dân gian ở Việt Nam nói riêng và cả ở các nơi khác trong địa bàn cũ của Bách Việt ví dụ như ở đền Động Đình thờ vị thần mặt đen liên hệ với Long Vương ở hồ Động Đình cũng có những là cờ loại này (Hồ Động Đình 1).  Ngoài lễ hội dân gian, cờ cổ truyền cũng dùng trong các lễ hội liên hệ với  truyền thuyết, cổ sử  và lịch sử Việt như cờ của  Hùng Vương, Hai Bà Trưng, của vua Quang Trung…
Đây là những lá cờ cổ truyền của Đại Tộc Việt. Dĩ nhiên cờ là biểu tượng cho một nền văn hóa, một quốc gia, một dân tộc, một bộ tộc, một chi tộc…phải mang những ý nghĩa biểu tượng nào đó. Ý nghĩa của cờ quốc gia thường được diễn tả theo bản sắc, cốt lõi văn hóa của một dân tộc. Chắc chắn đã có nhiều tác giả giải thích ý nghĩa những lá cờ truyền thống này. Tuy hiê hầu hết thường dựa theo ngũ hành tương sinh. Nhưng hôm nay tôi xin giải thích các lá cờ truyền thống tiêu biểu của Việt Nam theo cốt lõi văn hóa Việt Nam dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên-Rồng.
CỜ TRUYÊN THỐNG DƯỚI LĂNG KÍNH VŨ TRỤ GIÁO.
Kích Thước
Về kích thước cờ truyền thống chia ra làm hai loại rõ rệt là cờ đại, lớn và cờ tiểu, nhỏ. Cờ đại thường thấy dưới dạng cờ vuông coi như cờ tiêu biểu chủ yếu của lễ hội.
Hình Dạng
Có hai loại cờ truyền thống thường thấy là cờ hình vuông và cờ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) trông như hình tam giác cân để nằm ngang.
1. Cờ Vuông
Có hai loại cờ vuông: cờ vuông lớn gọi là cờ đại vuông và cờ vuông nhỏ gọi là cờ tiểu vuông.
Như đã nói ở trên, cờ đại vuông thường dùng làm cờ tiêu biểu chủ yếu được treo hay cắm ở nơi trọng tâm của lễ hội.
Cờ đại vuông (ảnh của tác giả).
2. Cờ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).
Đây là lọai cờ tiểu hay cờ nhỏ. Cờ cò hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).
Cờ tiểu hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (ảnh của tác giả).
Cờ tiểu cũng có loại hình vuông.
Cờ tiểu hình vuông (ảnh của tác giả).
Mầu Sắc
Cờ thường được làm với năm mầu. Ý nghĩa mầu sắc được gỉải thích theo ngũ hành của Trung Hoa:
-Mầu Kim
Mầu trắng là mầu hành Kim (mầu trong của khí gió).
-Mầu Mộc
Mầu lục (mầu xanh lá cây) là mầu hành Mộc
-Mầu Hỏa
Mầu đỏ là mầu hành Hỏa, mầu của lửa. Mầu Hỏa dương, thái dương là mầu đỏ lửa rực rỡ. Mầu đỏ âm, nữ là mầu hồng (quần hồng chỉ phái nữ).
-Mầu Thổ
Mầu vàng được cho là mầu hành Thổ (hoàng thổ).
-Mầu Thủy
Mầu đen là mầu nước hành Thủy thái âm (mầu đen của nước vùng sâu không có ánh sáng) và mầu xanh dương là mầu Thủy thái dương, mầu nước dương, có ánh sáng, nước chuyển động, biển, sông.
Vì thế mầu đen trên cờ ngũ sắc phải hiểu theo thái âm, nữ hay âm thế, tang ma.  Như đã thấy trong bài Hồ Động Đình Và Bách Việt, cờ phướn ở đền Động Đình đều có tua viền mầu đen, viết chữ đen mầu âm của Long Vương, âm thế không có mầu đỏ là mầu dương.
Cờ phướn ở đền Động Đình đều có tua viền mầu đen, viết chữ đen mầu âm của Long Vương, không có mầu đỏ là mầu dương (ảnh của tác giả).
Mầu đen ở đền Động Đình liên hệ với mầu nước thái âm, âm thế.
Ở đền thờ Hai Bà Trưng đồ thờ thường có mầu đen và cờ phướn có tua viền đen. Theo Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ : “Trong đền thờ Hai Bà Trưng, phàm những đồ thờ tự đều sơn đen, tuyệt không có sơn đỏ, dân địa phương ấy không dám mặc áo đỏ, những khi đến yết cáo, có ai mặc áo đỏ đều cởi bỏ đi, không ai dám xúc phạm đến cấm lệ. Tục truyền rằng Trưng Vương chết về việc binh đao, nên kiêng sắc đỏ vì giống như máu”. Đây là cái nhìn mầu đen theo  âm tang ma. Tác giả Phạm Hy Sơn trong bài Đính Chính Một Sử Liệu Sai Lầm Về Hai Bà Trưng
cho rằng nhà phê bình sử Ngô Thời Sĩ đã sai lầm. Ông chứng minh là ở đền Hai bà Trưng không phải mọi thứ đều có mầu đen cả mà còn có nhiều mầu sắc khác nữa.
Bàn thờ Hai\Bà Trưng (Phạm Hy Sơn).
Bàn thờ có mầu sắc vàng kim của vua chúa.
Tuy nhiên thật ta cũng thấy ở đền Hai Bà Trưng quả có nhiều mầu đen như  những tấm hoành phi, cái kiệu thờ có mầu đen, những lá cờ đại và cờ lệnh ở đền có vành ngoài và tua “đuôi nheo” mầu đen.
Lá Cờ Đại, mỗi bề khoảng 5m có vành và tua mầu đen được kéo lên rất cao trước cửa đền mỗi khi có đại lễ kỷ niệm Hai Bà (Phạm Hy Sơnhttp://www.congdongnguoiviet.fr).
Cờ lệnh có vành ngoài và tua mầu đen (Phạm Hy Sơn).
Tác giả Phạm Hy Sơn đã vạch ra là có sai lầm về điểm cho là tất cả các vật ở đền Hai Bà đều có mầu đen nhưng không giải thích tại sao những vật  có mầu đen có nghĩa gì khác với tang chế.
Ta thấy rất rõ mầu đen ở đây có một khuôn mặt âm, nữ, nước. Hai Bà Trưng phái nữ  nên những vật trên có mầu đen. Điểm này thấy rõ qua lá cờ lệnh của Hai Bà. Cờ lệnh là cờ lúc ra trận có nghĩa là lúc Hai Bà chưa chết, nên vành đen và tua đen của cờ không thể nào mang ý nghĩa biểu tượng cho tang ma, sự chết của Hai Bà.
Hiểu nhiên mầu đen của vành và viền tua cờ không phải là mầu tang ma, nhìn theo diện tang chế là hiểu theo nghĩa duy tục.
Xin nhắc lại quan niệm ngũ hành của Trung Hoa khác với Bách Việt. Ngũ hành Trung Hoa có 5 yếu tố Kim Mộc Thủy Hỏa Thổ. Hành Kim tương ứng với Khí, Gió biểu tượng bằng vòng tròn diễn tả bọc túi không gian. Tôi thấy điểm này rất gượng ép là tại sao Khí ở dạng thể hơi lại được biểu tượng bằng kim loại (vì thế kim loại còn được gọi là kim Khí). Đa phần kim loại là chất rắn (ngoại trừ thủy ngân ở thể lỏng). Khí gió có mầu trong, trắng trong khi kim loại có đủ mầu. Khí gió biểu tượng bằng bao, bọc, túi không gian diễn tả bằng vòng tròn trong khi kim loại đâu có hình tròn…
Kim biểu tượng cho khí gió rất là gò ép. Còn hành Mộc của Trung Hoa là một yếu tố xuất hiện rất muộn. Cây, Mộc chỉ có ở cõi Đất thế gian. Cây chưa có ở cõi tạo hóa tức cõi tạo sinh ra vũ trụ. Như thế hành Mộc cho thấy quan niệm ngũ hành Trung Hoa rất muộn trong quá trình Vũ Trụ Tạo Sinh. Bách Việt chỉ có tứ hành và Cây Vũ Trụ. Tứ tượng sinh ra vũ trụ tam thế diễn tả bằng Cây Vũ Trụ.  Cây Vũ Trụ là thành quả của tứ tượng. Có ánh sáng (Hỏa), có đất (Thổ), có nước (Thủy) và có khí gió (oxygen, Kim) mới nẩy nở ra cây Mộc (vũ trụ). Quan niệm tứ hành và cây Tam Thế của Bách Việt rất thuần lý. Người Trung Hoa lấy cây vũ trụ làm thành hành Mộc trong ngũ hành. Cũng nên biết Vũ Trụ Tạo Sinh gồm tứ hành thường gọi là Bốn Nguyên Sinh Động Lực Chính và Cây Vũ Trụ thấy trong tất cả các nền văn hóa khắp thế giới ngoại trừ Trung Hoa và các nước bị ảnh hưởng Trung Hoa có ngũ hành. Và theo khoa học ngày nay, trong di truyền học, DNA chỉ gồm có bốn yếu tố CGAT sinh ra muôn sinh gọi là Four Letters of Life chứ không phải là năm yếu tố, ngũ hành.
Vì thế mầu ngũ sắc của cờ truyền thống Bách Việt cũng có thể nhìn theo Vũ Trụ quan của Bách Việt không nhất thiết phải theo ngũ hành của Trung Hoa.  Chúng ta có thể dùng các mầu khác thích hợp với Đại Tộc Việt, Người Mặt Trời thái dương ví dụ mầu tím đen, mầu hoàng hôn, mặt trời lặn của Lạc Long Quân, mầu hồng mặt trời rạng đông nhật tảo của Âu Cơ…  Mầu lục có một khuôn mặt biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) trong văn hóa Đại Tộc Việt. Ta có thể dùng bẩy mầu cầu vồng của ánh sáng trắng thay vì chỉ có ngũ sắc.
Ý NGHĨA ĐÍCH THỰC CỦA CỜ TRUYỀN THỐNG BÁCH VIỆT.
Như thế ta thấy cờ truyền thống Bách Việt làm theo ý nghĩa của Vũ Trụ giáo ví dụ như cờ biểu tượng cho Hùng Vương, Hai Bà Trưng… không thể làm theo ngũ hành. Do đó ta phải đi tìm những mẫu cờ đích thực của Đại Tộc Việt dựa trên cốt lõi văn hóa Đại Tộc Việt là lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên-Rồng.
Mầu sắc
Ngày nay sự sắp đặt năm mầu này lung tung tùy theo ý của ban tổ chức lễ hội hay theo con mắt của người nghệ sĩ thiết kế không theo đúng lề lối mầu sắc hay sắc mã (color code) theo  cốt lõi văn hóa Việt tức theo Dịch lý dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương. Nhiều khi mầu sắc và cách sắp đặt mầu sắc đối nghịch với chủ điểm của lễ hội. Ví dụ lá cờ truyền thống rất lớn biểu tượng cho lễ hội kỷ niệm Ngàn Năm Thăng Long vừa qua ở Hà Nội có hình vuông ở tâm mầu vàng và vành vuông ngoài cùng có mầu xanh nước biển.
trên hồ Trúc Bạch… (vietnamplus.vn/Home/La-co-Ngu-sac-lon-nhat-mung-Ha-Noi-nghin-nam-tu… ).
Người làm cờ giải thích là hình vuông ở tâm lá cờ có màu vàng  có diện tích là 10.1m2 là hành Thổ tượng trưng cho năm 1010 khi vua Lý Thái Tổ dời đô về kinh thành Thăng Long. Vành ngoài màu xanh dương (hành Thủy) rộng 20,1m2 – tượng trưng cho năm 2010, đúng 1.000 năm Thăng Long-Hà Nội. Về kích thước thì 10.1m2 biểu tượng cho năm 1010 và 20.1m2 biểu tượng cho 2010 thì quá đúng rồi nhưng tôi thắc mắc là mầu vàng ở tâm biểu tượng cho hành thổ Đất và vành ngoài biên mầu xanh dương biểu tượng cho hành thủy thái dương Nước dương nghĩa là cờ mang ý nghĩa chính là Đất Nước có liên hệ gì với Thăng Long Con Rồng Bay? Rồng có gốc là rắn là Nước Thủy nhưng bay liên hệ với khí gió Kim.
Hình dạng
Cờ hình vuông
Tại sao cờ truyền thống chính của Việt Nam lại có hình vuông?
Hình vuông có nghĩa gì trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que?
Như đã viết nhiều lần (Chữ Nòng Nọc, Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á, Ý Nghĩa Đích Thực Của Bánh Dầy Bánh Chưng), hình vuông có một khuôn mặt là dạng thái dương của nòng O như yoni vuông của Ấn giáo là dạng thái dương của yoni tròn. Nói một cách dễ hiểu là hình vuông là nòng O của ngành lửa, thái dương, mặt trời thái dương.
Như thế hình vuông mang trọn ý nghĩa của Vũ Trụ Tạo Sinh trong Vũ Trụ giáo ngành nòng thái dương. Cờ vuông cũng vậy.
.Hư Vô, Vô Cực
Cờ vuông có một khuôn mặt hàm chứa một ý nghĩa hư không, nòng O đã chuyển qua dạng thái dương của ngành thái dương.
.Trứng Vũ Trụ hay Thái Cực
Tương tự với vòng tròn, hình vuông cũng hàm chứa ý nghĩa sinh tạo, tạo sinh của Trứng Vũ Trụ, Thái Cực nhất là của ngành nòng âm thái dương ứng với Thần Nông thái dương.
Chúng ta có lá cờ quốc tổ Hùng Vương hình vuông vì văn hóa Việt nghiêng nhiều về phía Thần Nông, Lạc Long Quân (như thấy rất rõ qua lá cờ vuông ở đền hồ Động Đình liên hệ với Long Vương, ông ngoại Lạc Long Quân). Lá cờ này có một khuôn mặt là bọc trứng sinh tạo, tạo hóa thái dương của Hùng Vương mặt trời.
.Lưỡng Nghi
-Cực âm
Theo duy âm, hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho nòng, bộ phận sinh dục nữ, âm, cực âm… như đã thấy qua yoni vuông của Ấn giáo.
Lá cờ truyền thống hình vuông của Việt Nam có một khuôn mặt biểu tượng cho cực âm, nữ… nhất là khi hình vuông ở tâm có mầu đen và có viền tua hình gợn sóng nước. Lưu ý là cờ vuông biểu tượng cho cực âm này thường đi cặp đôi với cờ có hình tam giác hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) biểu tượng cho cực dương (xem dưới).
Cờ vuông âm tthái dương được dùng trong các lễ hội của các tộc thuộc ngành Thần Nông, Nước thái dương.
-Cực dương
Theo duy dương, hình vuông có một khuôn mặt biểu tượng cho thái dương, lửa của ngành âm. Cũng xin nhắc lại người Inca có mặt trời hình vuông (xem Sự Tương Đồng Giữa Cổ Việt và Inca).
Lá cờ truyến thống hình vuông của Việt Nam nếu có hình vuông ở tâm mầu đỏ có một khuôn mặt biểu tượng cho cực dương của ngành âm (cần phân biệt với nọc mũi tên [mũi mác, răng cưa, răng sói) của ngành dương]. Cờ biểu tượng cho cực dương (lửa, mặt trời) phải có tua viền quanh hình lưỡi lửa mầu đỏ.
Cờ vuông lửa thái dương được dùng trong các lễ hội của các tộc thuộc ngành Viêm Đế, Lửa thái dương.
. Tứ Tượng
Ta đã biết hình vuông biểu tượng cho tứ phương, bốn hướng, cho tứ trụ, bốn nguyên sinh động lực chính… ứng với tứ tượng. Hình vuông để đứng trên một đỉnh biểu tượng cho Bồn Nguyên Sinh Động Lực Chính tức tứ tượng chuyển động, sinh động ứng với từ hành (James Churchhard).
Lá cờ truyến thống hình vuông của Việt Nam nếu có hình vuông ở tâm mầu đỏ và bốn vành vuông bọc ngoài có bốn mầu của tứ tượng thì cờ có một khuôn mặt biểu tượng cho tứ tượng ngành dương (tứ tượng dương). Nếu có hình vuông ở tâm mầu đen (hay mầu xanh dương Nước dương) và bốn vành vuông bọc ngoài có bốn mầu của tứ tượng thì cờ có một khuôn mặt biểu tượng cho tứ tượng ngành âm (tứ tượng âm).
./Tượng đất
Như đã nói ở bài Ý Nghĩa Đích Thực Của Bánh Dầy Báng Chưng, đất vuông là đất ruộng đồng. Cờ có hình vuông là làm theo hình ảnh của đồng ruộng. Theo duy âm là ruộng mẹ. Đồng có nghĩa là mẹ như việcđồng áng là việc mẹ cha (cổ ngữ Việt áng ná là cha mẹ); đồng bóng là bóng mẹ. Mã ngữ indong là mẹ.
Cờ vuông là biểu tượng cho đất vuông ruộng đồng Âu Cơ thuộc ngành Nọc Lửa Viêm Đế (vì Mẹ Tổ Âu Cơ  có cốt lửa, thái dương nên mới có hình vuông, dạng thái dương của vòng tròn).
Theo duy dương, vào thời phụ quyền cực đoan hình vuông đất dương đại diện cho đất âm nữ.
Cờ vuông biểu tượng cho tượng đất có hình vuông ở tâm mầu vàng hay nâu hay có viền tua vàng hoặc nâu.
Mầu vàng là mầu thái dương âm của mầu đỏ vì thế mà mầu vàng được cho là mầu đất âm thái dương hoàng thổ. Con mầu nâu là mầu thiếu dương đất dương.
Cờ vuông tượng đất được dùng trong các lễ hội của các tộc Đất Mẹ Tổ Âu Cơ, Kì Dương Vương.
./Tượng lửa
Như đã nói ở trên hình vuông có một khuôn mặt lửa, thái dương. Lá cờ  truyền thống Việt Nam hình vuông biểu tượng cho tượng lửa, tộc Lửa Việt có hình vuông ở tâm mầu đỏ hay cam hoặc tua viền lưỡi lửa hay viền hình nọc mũi tên mầu đỏ ở ngoài cùng mang ý nghĩa thái dương, lửa.
Cờ vuông tượng lửa được dùng trong các lễ hội của các tộc lửa vũ trụ Đế Minh.
./Tượng Gió
Hình vuông có một khuôn mặt  thiếu âm gió.
Cờ truyền thống Việt Nam biểu tượng cho tượng gió có hình vuông ở tâm mầu trắng hay viền tua hình gió cuộn chuyển động mầu trắng. Gió thế gian đội lốt khí vũ trụ. Như đã nói ở trên hình vuông là dạng thái dương của bọc Trứng Vũ Trụ Hùng Vương  nên có một loại cờ truyền thống vuông biểu tượng cho tượng gió là chuyện tất nhiên.
Cờ vuông tượng gió được dùng trong các lễ hội của các tộc gió của Hùng Vương thế gian Phong Châu.
./Tượng Nước
Như đã nói ở trên nước thái âm có mầu đen và nước thái dương có mầu xanh, thường lấy mầu xanh dương nước biển. Cờ biểu tượng cho Nước âm, nữ có hình vuồng ở tâm mầu đen hay viền tua sóng nước mầu đen.
Cờ biểu tượng cho Nước dương có hình vuồng ở tâm mầu xanh dương hay viền tua sóng nước mầu xanh dương.
Cờ vuông tượng nước được dùng trong các lễ hội của các tộc nước, lễ hội nước của đại tộc Lạc Long Quân .
.Trục Thế Giới
Trụ vuông cũng được dùng làm biểu tượng cho Trục Thế Giới.
Cờ vuông coi như là thiết diện của trục thế giới, là ma phương 5/15.
Cờ vuông được dùng trong lễ hội dâng cúng lễ vật, thỉnh nguyện tới Tam Thế.
Ta đã biết Trục Thế Giới là thân Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) nên nhiều khi có một khuôn mặt là Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) vì vậy hình vuông ở tâm cờ có thể cũng có mầu lục.
. Sinh tạo, tái sinh
Hình vuông có một khuôn mặt Trứng Vũ Trụ, Thái Cực thái dương và cũng có khuôn mặt bộ phận sinh dục nữ, yoni vuông hiển nhiên mang nghĩa sinh tạo, về sau trong xã hội nông nghiệp được dùng trong các lễ hội cầu mùa, gặt hái như bánh chưng (Ý Nghĩa Đích Thực Của Bánh Dầy Bánh Chưng).
Cờ hình mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói).
Cờ hình nọc mũi tên biểu tượng cho nọc, dương, lửa, bộ phận sinh dục nam.
Cờ vuông đi đôi với cờ nọc mũi tên cho thấy rõ cờ vuông có một khuôn mặt là âm thái dương trăm phần trăm.  Hai lá cờ tiểu vuông và nọc mũi tên mang ý nghĩa nòng nọc, âm dương thái dương biểu tượng cho lưỡng nghi thái dương. Từ đây ta thấy rõ cờ vuông lớn có một khuôn mặt là thái cực phân sinh ra hai cờ con là hai cờ nhỏ nòng nọc, âm dương thái dương ở tầng lưỡng nghi ứng với bọc trứng vuông thái cực thái dương của Hùng Vương thái dương, sinh ra hai ngành Lửa có cờ biểu nọc mũi tên và ngành nước có cờ biểu là cờ nhỏ vuông.
Tua Cờ “Đuôi Nheo”
Tua viền cờ thường hay gọi là đuôi nheo. Tên gọi này không chỉnh vì tua viền cờ có nhiều dạng khác nhau không nhất thiết có hình đuôi cá nheo. Viền tua cờ có thể có hình lưỡi lửa, hình nọc mũi tên, hình sóng nước, hình gió cuộn.
Treo Cờ
Treo, cắm cờ phải theo qui luật nòng nọc, âm dương. Cờ dương nọc mũi tên treo hay cắm ở bên tay phải tức phía dương, phía bên có để trống và cờ vuông nhỏ treo hay cắm ở phía tay trái tức phía âm, phía bên để cồng.
Lưu ý
.Theo văn hóa Việt, bên phải là dương như thấy trên trống đồng nòng nọc, âm dương các hình chim thú đểu chuyển động từ trái sang phải tức theo chiều ngược với kim đồng hồ, theo chiều mặt trời.
.Thường hay lẫn lộn phía phải hay trái là nhìn từ phía ngoài vào bàn thờ hay từ trong ra. Nếu theo quan niệm theo nghĩa nội (cha, dương) thì ngành nội.  nọc, dương, cha nhìn từ trong ra và theo nghĩa ngoại (âm, mẹ) thì ngành ngoại, nòng, âm, mẹ nhìn từ ngoài vào.
GIẢI THÍCH Ý NGHĨA MỘT LÁ CỜ CHÍNH THỐNG
Hiểu rõ ý nghĩa rồi, ta thử giải nghĩa một lá cờ cổ truyền còn giữ được chính thống để kiểm chứng lại xem có đúng hay không. Xin lấy lá cờ ở đền thờ Hai Hà Trưng ở Đồng Nhân, Hà Nội ở trên làm ví dụ.
Cờ đại ở tâm có hình vuông mầu đỏ là mầu Hỏa, mầu lửa, màu mặt trời. Bốn góc ngoài có phụ đề thêm bốn ngọn lửa nói cho biết mầu đỏ là mầu lửa, mặt trời.
Hai Bà Trưng quê ở Châu Phong dòng dõi vua Hùng mặt trời có thủ đô đóng ở Mê Linh. Như đã biết Mê Linh có gốc từ cổ ngữ Việt mơ linh, mơ lang, mling, mlang là tên gọi con chim cắt, chim Việt, chim biểu của thần mặt trời Viêm Đế (xem Ý Nghĩa Ngày Lễ Hai Bà Trưng).  Bà Trưng dòng Hùng Vương, vua mặt trời thuộc ngành thần mặt trời Viêm Đế nên mầu chủ yếu ở tâm cờ có mầu đỏ đúng trăm phần trăm.
Phần còn lại của cờ có mầu trắng nổi trội, chế ngự.  Mầu trắng là mầu trong của Gió (Kim). Vành hình thoi cũng nói cho biết mầu trắng là mầu gió (hình thoi là dạng chuyển động của hình vuông tức âm thái dương chuyển động. Khôn có dương tính ‘động’ tức Khôn dương, thiếu âm IIO gió). Hai Bà Trưng quê ở Châu Phong (Châu Gió) dòng Hùng Vương nên mầu trắng chủ yếu của phần cờ còn lại liên hệ với khuôn mặt bầu trời gió của bọc trứng Hùng Vương đúng trăm phần trăm.
Hai vành vuông mầu hồng hiển nhiên biểu tượng cho mầu đỏ thái dương nữ ăn khớp trăm phần trăm với khuôn mặt nữ dòng mặt trời thái dương và với khuôn mặt nữ vương quần hồng.
Hai vàng mầu xanh dương là mầu nước thái dương cho biết Hai Bà có một khuôn mặt nữ thái dương hay thuộc ngành nươc dương Lạc Long Quân.
Vành ngoài cùng với tua mầu đen như đã nói ở trên ở đây nghiêng về nghĩa thái âm nữ nhiều hơn là nghĩa tang chế. Điểm này cũng thấy rõ những tua viền cờ (đuôi nheo) ở đây có hình ngọn lửa mang ý nghĩa lửa âm, lửa nữ chứ không có hình sóng nước biểu tượng cho cõi nước âm, tang ma.
Lá cờ lệnh nhỏ ở tâm cũng có mầu hồng đỏ mang ý nghĩa lửa thái dương nữ, nữ vương dòng mặt trời Hùng Vương. Vành mầu hồng to mang tính ngự trị có nghĩa là lửa chiến tranh của nữ vương vì đây là cờ lệnh, cờ chiến. Mầu trắng với nghĩa như trên. Vành hình thoi chuyển động cũng mang nghĩa gió chuyển động như trên. Vành đen ngoài cùng với tua viền hình ngọn lửa mang nghĩa như trên.
Đặc biệt cờ lệnh còn có một chuỗi hình ngữ nòng nọc ba thùy (tri-lobeb pattern) thái dương mang nghĩa nữ thái dương, nữ vương, thần tổ nữ, mẹ tổ nữ ngành mặt trời…
Hàng hình ba thùy thái dương mang nghĩa âm, nữ thái dương, nữ vương… Hàng hình thoi chuyển động mang nghĩa gió dương chuyển động.
Ở chương Chữ Nòng Nọc trong Giải Đọc Trống Đồng Nòng Nọc, Âm Dương Đông Nam Á tôi đã viết rõ về hình thái ba thùy này. Ở đây chỉ xin nhắc lại sơ qua.
Ba nòng OOO (tức ba âm có một khuôn mặt là quẻ Khôn) dính lại và mở ra tạo ra hình ba thùy có nhiều hình thái vẫn có gốc nghĩa là âm O thái âm OO, mây, mưa (mưa là nước OO rơi từ trời, không gian O), Khôn, Mẹ Hư Không Vũ Trụ, những đấng chí tôn nữ v.v .
Có hai loại hình ba thùy:
-/ Hình ba thùy âm:
Cả ba thùy đều thuôn tròn đầu còn mang âm tính, thái âm ngành nòng, thuần âm, Khôn, mây…
Hình ba thùy tròn đầu mang âm tính.
Hình mây ba thùy.
Hình ba thùy mang một ý thần tổ nữ, nữ vương, vua bà như thấy ở háng Phật bà:
Hình ba thùy ở háng tượng Phật Bà (ảnh của tác giả).
Và thấy ở trên vương miện của Bà Trưng:
Bà Trưng (tranh dân gian).
Ở đây nhìn theo thuần âm nên ba thùy tròn nếu nhìn theo nữ vương âm thái dương thì thùy ở giữa có hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) tức hình ba thùy dương (xem dưới).
-/Hình ba thùy dương
Loại này có thùy ở giữa nhọn đỉnh. Khi các hình ba thùy âm nam hóa, dương hóa thì thùy giữa có hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) (vài khi có thể coi đây là cái dấu nọc mũi nhọn > dương, thái dương). Có tác giả gọi hình này là hình lá đề.
Hình ba thùy dương lá đề trên gốm Bát Tràng (Phan Huy Lê, hình   XV).
Cây đề ruột thịt với cây đa, cây si. Lá đề là lá đa có một nghĩa biểu tượng cho bộ phận sinh dục nữ dòng lửa thái dương (Ca Dao Tục Ngữ, Tinh Hoa Dân Việt). Nghĩa lá đề, lá đa này thấy rõ qua hình ba thùy âm, lá đa, lá đề thái âm ở háng tượng Phật Bà ở trên.
Ở đây trên lá cờ lệnh (liên hệ với lửa, chiến tranh) của Hai Bà Trưng hình ba thùy ở dạng nữ lửa thái dương, nữ vương. Hàng hình thái ba thùy dương trên cờ lệnh nói cho thấy rõ cờ của nữ vương dòng thái dương.  Hình thái ba thùy dương ở đây đúng trăm phần trăm.
Như thế ta thấy rõ những lá cờ truyền thống ở đền Hai Bà Trưng còn mang ý nghĩa từ mầu sắc cho tới các hình thái trang trí theo hình, chữ viết nòng nọc vòng tròn-que trong Vũ Trụ giáo, theo cốt lõi lưỡng hợp Chim-Rắn, Tiên-Rồng. Những lá cờ này với những mầu sắc êm dịu mang âm tính. Ngày nay những lá cờ trong các lễ hội Hai Bà Trưng có những mầu sắc lòe loẹt với ý nghĩa nhiều khi  hoàn toàn sai lệch.
Qua ví dụ điển hình này ta thấy cờ truyền thống Việt Nam phải làm đúng theo cốt lõi văn hóa Đại Tộc Việt dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên-Rồng. Bắt buộc. Bắt buộc. Và bắt buộc. Cờ biểu tượng cho truyền thuyết và lịch sử Việt mà hiểu và xếp đặt mầu sắc theo ngũ hành là sai.
Tóm Lược Những Ý Nghĩa Chính của Cờ truyền Thống Việt Nam.
. Cờ mang trọn vẹn ý nghĩa Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo.
-Cờ đại
Cờ đại hình vuông mang nghĩa biểu tượng cho vũ trụ, tạo hóa ngành thái dương có một khuôn mặt  biểu tượng cho Tổ Hùng tạo hóa ngành mặt trời thái dương và cho cả Hùng Vương thế gian, lịch sử  bầu trời, Gió đội lốt Tổ Hùng tạo hóa ngành nòng thái dương, Thần Nông thái dương.
-Cờ tiểu
Theo nghĩa nguyên thủy nòng nọc, âm dương phát xuất từ bộ phận sinh dục nữ nòng vòng tròn O và bộ phận sinh dục nam nọc chấm nguyên tạo hay nọc que thì cờ vuông là nòng không gian âm thái dương và cờ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) là nọc mặt trời thái dương. Cờ vuông nhỏ và cờ nọc mũi tên nhỏ mang hình ảnh nòng nọc, âm dương biểu tượng cho hai nhánh lửa nước của trăm Lang Hùng.
Như vậy nguyên thủy phải hiểu hai loại cờ tiểu truyền thống có nguồn gốc lưỡng hợp nòng nọc, âm dương, cốt lõi của văn hóa Việt Chim-Rắn, Tiên-Rồng.
Chúng ta có tên bốn châu ứng với Tứ Tượng là Châu Dương là Châu Mặt Trời, Lửa ứng với Càn Đế Minh, Châu Kì Núi dương ứng với Li Kì Dương Vương, Châu Hoan là Châu Nước ứng với Chấn Lạc Long Quân và Châu Phong gió ứng với Hùng Vương mạng Đoài nên cờ của mỗi đại tộc có một mầu chủ yếu ứng với tứ tượng.
Đề Nghị Sửa Đổi Cho Đúng
Trong tất cả các lễ hội của Đại Tộc Việt cần phải có ba loại cờ có kích thước khác nhau:
./Cờ đại: trong bất cứ lễ hội nào cũng phải có lá cờ đại lớn nhất. Nếu là lễ hội liên quan với truyền thuyết, lịch sử Đại Tộc Việt thì đây là cờ liên bang của Bách Việt, của liên bang Văn Lang. Nếu là lể hội dân gian liên quan với Tam Thế thì đây là cờ biểu tượng  cho Vũ Trụ giáo.
Cờ này treo hay cắm ở chủ điểm của lễ hội.
./Cờ trung: có kích thước vừa phải biểu tượng cho ngành, đại tộc, tộc hay khuôn mặt chính của lễ hội dân gian nằm trong Vũ Trụ Tạo Sinh của buổi lễ.
Cở này treo hay cắm dưới cờ đại.
./ Cờ tiểu: có kích thước nhỏ hình nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) và hình vuông nhỏ biểu tượng cho nòng nọc, âm dương, cho hai ngành RắnThần Nông Chim Viêm Đế, hai nhánh Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ và nhánh Nước Cha Tổ Lạc Long Quân cắm hay treo hai bên.
-Mầu Sắc
Cờ Vũ Trụ giáo
Đây là cờ biểu của văn hóa Đại Tộc Việt.
Chúng ta chỉ có tứ tượng, tứ hành và Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) không có ngũ hành. Người Trung Hoa cổ lấy Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống) làm thành hành Mộc. Vì thế trên lá cờ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo, cho Tổ Đại Tộc Việt có cốt lõi văn hóa là Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo, hình vuông ở tâm cờ đại có mầu lục (xanh lá cây) chúng ta dùng biểu tượng cho Cây Vũ Trụ (Cây Tam Thế, Cây Đời Sống).
Cờ Đại Tộc Việt
Cờ Đại Tộc Việt dòng Hùng Vương ngành Viêm Việt thần mặt trời Viêm Đế:
1.Màu đỏ
Hình vuông ở tâm mầu đỏ. Mầu đỏ có hai khuôn mặt: một ở tầng lưỡng nghi là cực dương thái dương, mặt trời thái dương của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời và hai là biểu tượng cho tượng Lửa ở tầng  tứ tượng có một khuôn mặt biểu tượng cho đại tộc Lửa dòng Đế Minh.
2. Mầu trắng
Kế tiếp mầu đỏ là mầu trắng. Mầu trắng cũng có hai khuôn mặt: một ở tầng lưỡng nghi là cực âm thái dương, không gian thái dương khí vũ trụ và hai là biểu tượng cho tượng Gió ở tầng  tứ tượng có một khuôn mặt biểu tượng cho đại tộc Gió dòng Hùng Vương thế gian.
Hai hình vuông mầu đỏ và mầu trắng này nhìn dưới dạng nhất thể là Trứng Vũ Trụ, Thái Cực họ thái dương ứng với bọc trứng thái dương Hùng Lang. Nếu nhìn dưới diện lưỡng nghi thì biểu tượng cho hai cực dương âm thái dương ứng với hai ngành : nhánh 50 Lang Lửa, Núi thái dương theo  Mẹ Tổ Âu Cơ và nhánh 50 Lang Nước, Biển theo cha Lạc Long Quân.
3. Mầu vàng
Kế tiếp nữa là vành vuông mầu vàng đất thái dương của đại tộc đất thái dương dòng Kì Dương Vương (nếu muốn cũng có thể dùng mầu đà, nâu đỏ).
4. Mầu xanh nước biển
Tiếp theo là vành vuông mầu xanh nước biển biểu tượng cho nước thái dương của Đại Tộc Nước thái dương dòng Lạc Long Quân.
5. Mầu lục (xanh lá cây)
Mầu lục biểu tượng cho Tam Thế diển tả bằng Cây Tam Thế  (Cây Vũ Trụ, Cây Đời Sống).
Lưu ý
.Trong trường hợp là cờ biểu Vũ Trụ giáo thì vành vuông ở tâm có mầu lục. Kế tiếp là những mầu còn lại ứng với  tứ tượng (trong trường hợp này nước có thể có dùng mầu đen nước thái âm).
.Trong trường hợp các cờ đại dùng làm biểu tượng cho mỗi đại tộc ứng với tứ tượng thì hình vuông ở tâm có mầu của đại tộc đó ví dụ Đại Tộc Nước thái dương Lạc Long Quân thì hình vuông ở tâm có mầu xanh nước biển (hay đen); Đại Tộc Đất thái dương có mầu vàng (hay đà); Đại Tộc Lửa có mầu đỏ (hay cam), Đại Tộc Gió có mầu trắng (hay lam).
.Về phía các vị vua, thần tổ nữ phải dùng các mầu âm  như  mầu hồng, mầu đen…
.Tại đền Hùng Vương phải có cờ đại biểu tượng cho Tổ Hùng Vương có kích thước với diện tích bằng 18 đơn vị vuông hay cạnh có 18 đơn vị chiều dài ứng với con số DNA của Hùng Vương. Hai cờ tiểu biểu tượng cho hai ngành: cờ tiểu vuông biểu tượng cho ngành Lửa Mẹ Tổ Âu Cơ treo ở phía tay trái (phía có để cồng) và cờ nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói) biểu tượng cho ngành Lạc Long Quân treo ở phía tay phải (phía có để trống) và bốn cờ vuông biểu tượng cho bốn đại tộc của bốn vị vua tổ Đế Minh, Kì Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương ứng với  tứ tượng treo hay cắm ở bốn góc.
Để phân biệt, tôi đề nghị ở giữa cờ  đại của Tổ Hùng  tạo hóa nên thêm vào chữ chấm-vòng tròn (tức bọc trứng 100 Lang Hùng) trong chữ viết nòng nọc vòng tròn-que thay vì viết chữ Hán Hùng Vương.
Ta cũng có thể dùng bẩy mầu ánh sáng trắng, mầu cầu vồng để diễn tả Hùng Vương Mặt Trời rạng ngời của Đại Tộc Việt Người Mặt Trời.
. . . . . .
– Tua viền cờ
Tua viền cờ có hình dạng khác nhau. Trong trường hợp mang nghĩa sinh tạo như cờ biểu tượng cho Vũ Trụ giáo, Tổ Hùng Vương thì viền hình sóng chuyển động dạng sin (sinusoid). Trường hợp là cờ biểu tượng cho mỗi ngành mỗi tộc thì viền có hình ngọn lửa nhọn (lửa thái dương), gợn sóng nước (nước thái dương), hình tháp (mũi tên, mũi mác, răng cưa, răng sói) (đất thái dương, núi dương nhọn đỉnh) và hình gió cuộn (móc cong úp xuống như hình diễn tả đuôi công) gió thái dương.
-Dải cờ
Có thể dùng làm sắc mã (color code) để hễ thấy dải mầu nào là biết ngay cờ là biểu tượng của liên bang Bách Việt, của ngành, đại tộc, tộc, chi tộc, của Vũ Trụ giáo, của khôn mặt nào của Vũ Trụ Tạo Sinh…
-Treo Cờ
Cờ đại treo hay cằm ở tâm điểm lễ hội.
Cờ trung treo hay cắm dưới cờ đại.
Cở tiểu dương thái dương nọc mũi tên (mũi mác, răng cưa, răng sói)  treo ở phía tay phải tức phía dương, phía có để trống và cờ tiểu âm thái dương hình vuông treo hay cắm ở phía trái, phía có để cồng hay chuông.
Cờ bốn đại tộc cắm ở bốn góc sân lễ hội ứng với tứ phương.
Kết Luận
Hiện nay các cờ truyền thống làm với mầu sắc lung tung tùy theo giải thích lệch lạc của địa phương, của từng nhóm tộc, làm tùy theo con mắt thẩm mỹ của nghệ sĩ. Ta phải làm cờ truyền thống mang ý nghĩa trọn vẹn theo Vũ Trụ Tạo Sinh, Vũ Trụ giáo dựa trên lưỡng hợp nòng nọc, âm dương Chim-Rắn, Tiên-Rồng, cốt lõi của văn hóa Đại Tộc Việt.
Nguồn: https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Phương thức chuyển giao quyền lực: Vụ ám sát Đinh Bộ Lĩnh
Trần Trọng Dương

Tượng Đinh Tiên Hoàng (924 – 979)
ở Hoa Lư (nguồn:vi.wikipedia.org)

Vụ ám sát cha con Đinh Bộ Lĩnh của Đỗ Thích trước nay đã có một số cách giải thích khác nhau, nhưng dường như chỉ có một cách được chấp nhận rộng rãi, theo đó việc Đỗ Thích hành thích họ Đinh là một hành động “đê tiện” và việc Thái hậu họ Dương khóac long bào cho Lê Hoàn được coi là hành động “cao quý”1

Bà được coi như là một biểu tượng của lòng yêu nước: “Lúc bấy giờ, tình hình đất nước vô cùng nguy ngập. Bên ngoài thì phong kiến phương Bắc sửa soạn đại binh sang xâm lược, bên trong các triều thần phân liệt, tranh chấp quyền lực gay gắt, nguy cơ nổ ra nội chiến lớn cận kề. Với tầm nhìn xa trông rộng, Thái hậu Dương Vân Nga thấy rõ chỉ có Thập đạo tướng quân Lê Hoàn là người có khả năng đứng ra lãnh đạo đất nước, có thể ổn định và giữ vững nền độc lập thống nhất non trẻ của Đại Cồ Việt. Bởi vậy, bà quyết định cùng triều thần tôn Lê Hoàn lên làm vua.”2 Bài viết này sẽ thuật lại các giả thuyết từng được đề cập, cũng như đưa ra kiến giải riêng về sự kiện này.Từ sử liệu trong Toàn thư…

Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) ghi chép sự việc này như sau: Mùa đông, tháng mười, Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết vua ở sân cung. Bọn Đinh quốc công Nguyễn Bặc bắt được đem giết. Trước đó Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, Thích cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua. Đến đây, nhân lúc vua ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân, Thích bèn giết chết, lại giết luôn cả Nam Việt Vương Liễn. Khi ấy lệnh lùng bắt hung thủ rất gấp, Thích phải lén núp ở máng nước trong cung qua ba ngày, khát lắm, gặp lúc trời mưa thò tay hứng nước uống, cung nữ trông thấy liền đi báo. Đinh quốc công Nguyễn Bặc sai người bắt đem chém, đập nát xương, băm thịt ra từng mảnh, chia cho người trong nước ăn, chẳng ai không tranh lấy mà nhai nuốt. Ngày trước, khi vua còn hàn vi, thường đánh cá ở sông Giao Thủy, kéo lưới được viên ngọc khuê to nhưng va vào mũi thuyền, sứt mất một góc. Đêm ấy vào ngủ nhờ ở chùa Giao Thủy, giấu ngọc ở dưới đáy giỏ cá, đợi sáng ra chợ bán cá. Bấy giờ vua đang ngủ say, trong giỏ có ánh sáng lạ, nhà sư chùa ấy gọi dậy hỏi duyên cớ, vua nói thực và lấy ngọc khuê cho xem. Sư than rằng: “Anh ngày sau phú quý không thể nói hết, chỉ tiếc phúc không được dài”3

Trong đoạn trên, hung thủ, động cơ, thời điểm, thời gian, không gian… của vụ ám sát được ghi chép khá cặn kẽ. Từ những ghi chép trên, một số người mặc nhiên công nhận người hành thích cha con họ Đinh là Đỗ Thích.

Tạ Chí Đại Trường trong cuốn Bài sử khác cho Việt Nam đã đồng thuận với Toàn thư mà cho rằng đây là một “cuộc bạo hành đơn lẻ” với những động cơ mơ hồ mang đầy tính huyền hoặc của nó, để đến khi Nguyễn Bặc giết được Đỗ Thích thì “người dân đương thời lại quan tâm đến ngôi sao trong mình Đỗ Thích, nên giành lấy những mảnh thịt băm ấy mà ăn, để mong hưởng chút ân sủng của Thiêng liêng”4

Pôliacốp thì miêu tả khách quan hơn, rằng Đỗ Thích giết họ Đinh vì muốn âm mưu cướp ngôi5. Nhưng ông không giải thích được sự manh động đơn lẻ cũng như cái chết của nhân vật này.

Tuy nhiên, việc giám định cho đoạn sử liệu trích dẫn ở trên hầu như lại chưa được thực hiện. Chúng ta có thể thấy hàng loạt những thông tin “phi sử liệu” đã được cài cắm. Như chúng tôi đã từng chứng minh, Toàn thư được biên soạn trên tư duy đa nguyên văn - sử - triết bất phân của thời Trung đại. Việc các tác giả Toàn thư đã sưu tập huyền thoại, chuyện kể, tác phẩm truyền kỳ, tin đồn dân gian vào công trình của mình, khiến cho tác phẩm này trở thành cái bẫy lớn cho bất kỳ ai quan tâm đến lịch sử. Để giải thích cho cuộc hành thích đơn lẻ của Đỗ Thích, người ta sáng tác ra câu chuyện “nuốt sao” với “giấc mộng đế vương”. Để giải thích cho sự tồn tại ngắn ngủi của nhà Đinh, người ta cũng sáng tác ra “chuyện ngọc khuê bị sứt” (như Toàn thư) hay chuyện “đeo kiếm cổ ngựa của ông thầy địa lý Tàu“ (như Lĩnh Nam chích quái). Để giải thích cho việc họ Lê sẽ lên thay họ Đinh, Toàn thư cũng chép lại một bài sấm ngữ được cho là sáng tác trước đó năm năm (974): “Đỗ Thích giết hai Đinh, nhà Lê nổi thánh minh, đánh nhau nhiều người chết, đường sá người vắng tanh.”6 Tuy nhiên, với chúng tôi, thì việc sáng tác sấm ngữ thời xưa chỉ là hành động chính trị của những thế lực nhằm “chính thức hóa” sự lên ngôi của mình bằng một định đề huyền bí: số trời (chữ của Toàn thư). Giả sử, nếu như bài sấm đó bắt đầu xuất hiện vào năm 974 đi nữa, thì đối tượng để Đinh Bộ Lĩnh “xử tử” đầu tiên chính là Đỗ Thích và những người mang họ Lê, mà có thế lực nhất thời bấy giờ chính là… Lê Hoàn - Thập đạo tướng quân. Vì thế có thể khẳng định, bài sấm này được sáng tác để tung vào dân gian ngay sau cuộc hành thích, hoặc như lời giải thích của chính Tạ Chí Đại Trường thì bài sấm có thể là do các “sử gia tăng lục”7 của nhà Lê sáng tác sau này. Đọc đến đây, quý vị hẳn đã mường tượng ra một âm mưu chính trị mà không ít người đã từng nghĩ tới.

…đến giả thuyết “Lê Hoàn mưu sát Đinh Bộ Lĩnh“

 Sử liệu đầu tiên đề cập giả thuyết “Lê Hoàn mưu sát Đinh Bộ Lĩnh” là ghi chép của Thẩm Quát trongMộng khê bút đàm được viết vào năm 1093 - sớm hơn Toàn thư 400 đến 600 năm. Bộ sử này ghi như sau: “thổ nhân Lê Uy giết Liễn tự lập” (土人黎威殺璉自立)8. Lê Uy tức Lê Hoàn9

Như ta biết, sau khi xảy ra vụ ám sát, Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn tự xưng làm phó vương. Các quan đầu triều nhà Đinh là Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp ngờ Lê Hoàn “làm điều bất lợi cho vua nhỏ”, cùng nhau dấy binh về Hoa Lư, nhưng đều bị Lê Hoàn giết. Lê Hoàn mắng Nguyễn Bặc trước khi chém đầu Bặc, rằng: “Tiên đế mắc nạn, thần người đều căm thẹn. Ngươi là tôi con lại nhân lúc tang tóc bối rối mà dấy quân bội nghĩa. Chức phận tôi con có đâu như thế?” (Toàn thư, tr.216). Sử gia Ngô Sĩ Liên đã có lời bình luận sắc sảo rằng: “Bọn họ khởi binh không phải làm loạn, mà là một lòng phù tá nhà Đinh, vì giết Hoàn không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ. Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội mình (TTD nhấn mạnh). Khi Bặc chết, ắt phải có nói một lời để bày tỏ chính nghĩa, nhưng không thấy sử chép, thế là bỏ sót.” (Toàn thư, tr.216)

Năm 1996, Mai Khắc Ứng viết “Những người viết sử xưa đơn giản hóa sự cố này: chỉ bởi một giấc mơ hão huyền mà Đỗ Thích trở thành tên sát nhân. Đằng sau Đỗ Thích còn ai không? Tại sao khi Lê Hoàn thế chân thì quân Tống lại can thiệp?”10. Đồng thuận với giả thuyết trên, năm 1997, Đinh Công Vỹ đã công bố một số tài liệu tại Hoa Lư để giải thích cho sự kiện này. Ví dụ, cuốn Hoa Lư tự sự (Vân Sàng truyện) có ghi một đoạn thơ Nôm như sau:

Dương Thị Vân phản bội chồng
Từ lâu vốn đã tư thông Lê Hoàn
Đặt mưu hiểm, lập chước gian
Đầu độc giết chết Tiên Hoàng cha con
Đỗ Thích tri nội hậu quan
Đi tuần về thấy tâm can hãi hùng
Nhẩy ngay lên mái điện rồng
Bụng đói miệng khát long đong ba ngày
Trời mưa hứng nước giơ tay
Triều đình hô hóan lôi ngay xuống đình
Đổ cho tội thí Đinh Đinh
Để Lê gia xuất thánh minh trị vì.11

Năm 2013, giả thuyết “Lê Hoàn mưu sát cha con Đinh Bộ Lĩnh - Đinh Liễn”, được GS Keith Weller Taylor nhắc lại trong cuốn “A History of Vietnamese”. Ông viết như sau: “Tên thích khách, như được miêu tả, vốn mê muội bởi những điềm triệu báo rằng sẽ lên ngôi vua, (hắn) đã nhanh chóng bị bắt, giết và ăn thịt trong bối cảnh bất thường của tục ăn thịt người. Chúng ta không biết nhiều về quyền lực chính trị của gia tộc họ Đinh, nhưng đằng sau sự kiện này có lẽ còn ẩn chứa sự đối kháng giữa các phe cánh ngoại thích và thậm chí cả mưu đồ của Lê Hoàn cùng Dương Vân Nga - bà hoàng hậu có đứa con sống sót - người được tin rằng đã có tư tình với Lê Hoàn trước khi Đinh Bộ Lĩnh chết.”12 

Như vậy là, sự suy luận độc lập của Taylor và các tác giả khác cùng với những sử liệu quan phương và tư liệu dân gian tại Ninh Bình khiến ta nghĩ đến một âm mưu chuyển giao quyền lực từ Đinh sang Lê. Âm mưu ấy cụ thể ra rao, chúng tôi xin được triển khai ở phần tiếp theo.

Át chủ bài của một âm mưu cung đình

Đến đây có thể đi đến nhận định như sau. (1) Đỗ Thích là kẻ được cho là thích khách (có thể là bị thí tốt, hoặc ngẫu nhiên chết oan, hai khả năng là 50/5013). (2) Người được lợi nhất trong cuộc hành thích này chính là Lê Hoàn. 

Còn một câu hỏi quan trọng cần được cân nhắc ở đây. Vì sao Đinh Toàn, đứa con trai của Hoàng hậu họ Dương và Đinh Bộ Lĩnh, không bị giết? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi muốn dẫn một số sử liệu từ Toàn thư.

Sử liệu 1: Khi Đinh Bộ Lĩnh bị giết, Đinh Toàn mới 5 tuổi [sinh năm 974] (tr.215).

Sử liệu 2: Đinh Toàn lên ngôi năm 6 tuổi, Lê Hoàn nhiếp chính, tự xưng là Phó Vương (tr.215).

Sử liệu 3: Thái hậu Dương khoác áo long cổn cho Lê Hoàn lên ngôi, giáng phong Đinh Toàn làm Vệ Vương (tr.217).

Sử liệu 4: Nhà Tống cho đòi hai mẹ con (Dương Thái hậu và Đinh Toàn) sang Bắc quy phụ, đó là điều kiện để “trao cờ tiết” cho Lê Hoàn, nhưng Lê Hoàn không nghe. (tr.219). Như ta biết việc này đã dẫn đến chiến tranh với Tống. 

Sử liệu 5: năm 982, lập Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu. Ngô Sĩ Liên bình: “Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn.” (tr.222).

Sử liệu 6: năm 1001, đi đánh giặc Cử Long,..., vua cũ [nhà Đinh] là Vệ Vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua [Lê Hoàn] kêu trời ba tiếng (TTD nhấn mạnh) rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ (tr.230).

Sử liệu 4 và 6 là vô cùng quan trọng, nhưng trước nay hầu như không được để ý đến. Từ những sử liệu trên, chúng ta có thể đi đến một số kết luận: (1) Lê Hoàn đã tư thông với Dương hậu từ trước năm 979 (xét, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, có quyền tự do ra vào cung cấm)14. Điều đó có nghĩa là (2) Đinh Toàn có khả năng cao chính là con đẻ của Dương hậu và Lê Hoàn. Đây chính là điểm mấu chốt quan trọng nhất mà các nghiên cứu trước đây chưa từng nghĩ đến. (3) Đinh Toàn sinh năm 974, như vậy việc tư thông phải có trước thời điểm này. (4) Nhà Tống dường như đã đọc được mối quan hệ ngầm trong hoàng cung Đại Cồ Việt nên đã vờ ra một “phép thử” tinh tế để có cớ xâm lăng. Dĩ nhiên, Lê Hoàn không thể đem hai mẹ con Dương hậu (hai con át chủ bài của cuộc đời) để lĩnh tiết việt. Lê Hoàn lên ngôi là việc đã xong, và việc đánh Tống là điều không thể tránh. Được hay mất, công hay tội, sống hay chết chính ở nước cờ cuối cùng này. Như ta biết, với chiến thắng chống Tống - chiến thắng lớn nhất trước đế chế đầu tiên của phương Bắc trong thế kỷ X, Lê Hoàn đã có tư cách của người chiến thắng để viết nên lịch sử của Đại Cồ Việt và lịch sử của đời mình.

Có thể nói, việc tư tình cùng những mâu thuẫn cung đình đã dẫn đến âm mưu chính trị. Triều đình nhà Đinh từ năm 979 trở về trước có thể đã được chia làm hai phe một cách ngấm ngầm. Phe thuộc về Đinh Bộ Lĩnh gồm Đinh Liễn, Hạng Lang, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp và hai dòng ngoại thích của Liễn - Lang... - đây là phe được hưởng lợi ích của đương triều. Phe thuộc về Hoàng hậu họ Dương gồm Lê Hoàn, Thái sư Hồng Hiến15, Phạm Cự Lạng, Ngô Nhật Khánh (con của Dương hậu với họ Ngô)... đan xen quyền lợi, ân oán giữa các dòng họ mới - cũ. Đầu năm 979, Đinh Liễn giết chết Hạng Lang để tranh chức tự vương với câu bao biện gian hùng: “tranh quan chăng nhường chức, trước hạ thủ là hơn” (tranh quan bất nhượng vị, tiên hạ thủ vi lương)16. Một bàn cờ mới đã mở ra. Chỉ còn Đinh Liễn và Đinh Toàn là có tính chính danh để nối ngôi. Vì thế, âm mưu ám sát hai cha con họ Đinh là một nước đi liều lĩnh và táo bạo. Đinh Toàn lên ngôi và nhường ngôi dưới bàn tay bao bọc và xắp đặt của Dương hậu, Lê Hoàn và những người cùng phe cánh. Để củng cố ngôi vị, Lê Hoàn không những chỉ dùng chiêu “gửi trứng”, “đánh tráo huyết thống” mà còn phải sử dụng cả bạo lực để tiêu diệt những kẻ chống đối, và thanh trừng, lôi kéo những người trung lập. 

Đến đây có thể nói, Đinh Toàn là con át chủ bài trong ván cờ trao đổi quyền lực từ họ Đinh sang họ Lê. Toàn mang họ Đinh, tức là mang tính chính danh, nhưng khả năng cao lại là huyết thống của Lê Hoàn, là giọt máu nối hai triều đại. Nhìn lại toàn bộ sự kiện chúng ta thấy, các sử gia từ Thẩm Quát, Ngô Sĩ Liên cho đến Đinh Công Vỹ, K.W. Taylor đã nhìn Lê Hoàn - Dương hậu như là kẻ chủ mưu của vụ ám sát cha con Đinh Bộ Lĩnh. Thế nhưng, trong suốt thế kỷ XX cho đến nay, không ít những công trình sử học, các sách giáo khoa, tác phẩm văn học - sân khấu - điện ảnh, cũng như các phương tiện thông tin truyền thông đều cố gắng dựng lên một hình ảnh phụ nữ “vì nước quên thân” khi Dương Vân Nga khoác long bào cho Lê Hoàn. Phải chăng mỹ hóa lịch sử cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc (nationalism) ở Việt Nam?
---
1 Chữ dùng của GS Trần Quốc Vượng khi ông điểm diện các nhân vật của thế kỷ 10, đó là thế kỷ “có cái đê tiện của Đỗ Thích mà cũng có cái cao quý dâng duyên của Dương Vân Nga” [Trần Quốc Vượng. 1984. Việt Nam thế kỷ X- Văn hóa- Văn minh. Trong “Thế kỷ X: những vấn đề lịch sử”. Nxb.KHXH. H.  tr.230].

2 Hà Nguyễn, Phùng Nguyên. 2010. 500 câu hỏi đáp Lịch sử- Văn hóa Việt Nam. NXB Thông tấn. H. tr.80.

3 Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.214

4 Tạ Chí Đại Trường. 2009. Bài sử khác cho Việt Nam. Văn Mới. USA. tr.132

5 A.B. Pôliacốp. 1996. Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X- XIV. Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân dịch; Lê Đình Sỹ, Nguyễn Xuân Mạnh, Hán Văn Tâm hiệu đính. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam - NXB Chính trị Quốc gia. H. tr.38.

6 Vô danh. Thế kỷ 14. Việt sử lược. Trung Hoa thư cục. Bắc Kinh. Tái bản 1985. Q.1. tr.19.

7 Tạ Chí Đại Trường. 2009. sđd. Tr.132.

8 Thẩm Quát (1031- 1095), (1093, tb1975). Nguyên san Mộng Khê bút đàm. Văn vật xuất bản xã. Bắc Kinh. Vol.25: 26-27.

9 Về mặt giám định sử liệu của Mộng Khê bút đàm xin xem bài Nguyễn Phúc Anh. 2012. Những tư liệu về nguyên quán của Lý Công Uẩn. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. số 8-9 (97- 98). 2012. tr.182- 204.

10 Mai Khắc Ứng. 1996. Chính sách khuyến nông dưới thời Minh Mạng. NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.33, 34.

11 Chuyển dẫn Đinh Công Vỹ. 1997. Góp phần làm sáng tỏ hình ảnh Đinh Điền - Nguyễn Bặc qua một số tư liệu Hán Nôm và dân gian. Thông báo Hán Nôm học. NXB KHXH. H. tr. 719-737.

12 Keith Weller Taylor. 2013. A History of the Vietnamese. Cambridge University Press. New York. pp.53-54.

13 Tuy nhiên, theo “gia phả họ Đỗ ở Đại Đê, huyện Vụ Bản và sự tích đền Thảo Mã (tức đền Gạo ở xã Thanh Bình, huyện Thanh Liêm) có nói tới việc Đỗ Thích có công cõng Đinh Tiên Hoàng chạy trốn khi ông bị Nam Tấn Vương đuổi. Người cứu vua, lại thành kẻ giết vua thì quả là khó hiểu?“ [Đinh Công Vỹ. 1997. bđd].

14 Đặng Xuân Bảng. 2000. Việt sử cương mục tiết yếu. Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.66.

15 “Thái sư Hồng Hiến chết. Hiến là người Bắc [tức Trung Quốc], thông hiểu kinh sử, thường theo các cuộc chinh phạt làm quân sư, cùng là khuyên vua lên ngôi, mưu bàn việc nước, có công lớn, vua tin dùng như tâm phúc...“ (Toàn thư, tr.226).

16 Đinh Liễn. 979. Kinh tràng cầu siêu cho Hạng Lang. Bảo tàng Ninh Bình. [Xem thêm bản dịch trong Hà Văn Tấn. 2002. Chữ trên đá - chữ trên đồng - minh văn và lịch sử. NXB KHXH. Hà Nội.]

Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=7127&CategoryID=41