Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2015

Mở quán hàng nho nhỏ
"Mời vào đây
Ai mua gì cũng có"
Tôi là khách đầu tiên
Từ bên trong
Phù thủy ló ra nhìn:
"Anh muốn gì"?
"Tôi muốn mua tình yêu.
Mua hạnh phúc, sự bình yên, tình bạn,..."
"Hàng chúng tôi chỉ bán cây non
Còn quả chín anh phải trồng,
Không bán"!


("Quán hàng phù thuỷ" - K.Bađijađrô, Thái Bá Tân dịch)
Trong guồng quay kim tiền, mấy ai có lòng bao dung, san sẻ chút ít thời gian của mình sang cho những kẻ khốn khổ mà họ không quen biết? Câu chuyện của anh chàng này đã truyền cảm hứng cho hàng triệu người






Ngày chủ nhật, Sam thật vất vả mới tìm được một nhà tạo mẫu tóc ưng ý, anh liền đề nghị: “Anh có thể cắt tóc cho tôi không, bao nhiêu tiền cũng được!”

Nhà tạo mẫu nói: “Tôi thực sự xin lỗi, ngày hôm nay tôi chỉ cắt tóc cho người lang thang...”

Nhà tạo mẫu có tính cách như vậy tên là Mark Bustos, anh ta là người Philipines hiện đang sinh sống ở New York, Mỹ.

Mark là một nhà tạo mẫu tóc nổi tiếng tại New York, công việc hàng ngày của anh luôn luôn bận rộn. Một tuần có 6 ngày anh cắt tóc tại cửa hiệu, tiếp đón những nhân vật nổi tiếng, điều này cũng giống với những thợ cắt tóc khác. Nhưng có điều khác là, ngày duy nhất còn sót lại trong tuần để nghỉ ngơi thì anh lại đi ra các con phố… Điều này làm anh trở nên nổi tiếng.

Vậy rốt cuộc anh ấy đã làm gì…?

Hãy trở lại cách đây hơn 3 năm, vào tháng 5 năm 2012 khi Mark trở về quê hương Philippines để thăm người thân gia đình. Vì rảnh rỗi không có việc gì làm, anh ta liền cắt tóc miễn phí cho những trẻ em ở gần nhà, không ngờ việc này lại đem lại cho anh một loại cảm giác vui sướng vô giá.

Vậy là anh quyết định mang theo “cảm giác vui sướng” đó quay trở lại New York. Ở đây, anh quyết định tiếp tục đi đến các đường phố để cắt tóc cho những người vô gia cư.

Ở New York có rất nhiều người lang thang vô gia cư, nhưng kỳ thực rất nhiều người trong họ không phải là không có khả năng lao động. Nhưng mỗi người họ đều vì vẻ ngoài bản thân luộm thuộm mà không dám đi xin việc hay tự tin giao tiếp.

Trong lúc cắt tóc Mark rất thích được trò chuyện cùng với họ, đồng thời cũng coi họ như những khách hàng cao cấp của mình. Tuy nhiên, không phải ai cũng sẵn lòng trò chuyện cùng anh, ví dụ như Jemar là một trong số đó. Mãi cho đến khi, Mark cho anh ta nhìn thấy khuôn mặt sau khi đã được cắt tóc, anh ta mới sửng sốt nói: “Cậu có biết chỗ nào tuyển người làm việc không?”

Một vị khách khác là Jim, vừa mới ra tù hai tuần. Rất nhiều người không khỏi dùng ánh mắt kỳ thị khi nhìn anh ta. Nhưng Mark đã nói: “Giá trị sinh mệnh của mỗi người là như nhau, chúng ta đều có tư cách để nhận được những cơ hội khác trong cuộc đời.”



Hiện tại, bạn gái của Mark cũng đi cắt tóc giúp những người lang thang trên đường phố. Khi bạn gái của Mark hỏi những người lang thang muốn ăn gì, họ đều trả lời: “Không có ai quan tâm chúng tôi muốn gì, chúng tôi chỉ là ăn cơm thừa, rượu cặn và mặc quần áo rách…”

Những người lang thang này đều nở một nụ cười tươi sau khi nhìn thấy hình tượng mới của mình. Có lẽ nhiều người bình thường sẽ không lý giải được việc này, nhưng đối với họ mà nói, không bị người khác dùng ánh mắt kỳ thị ghét bỏ thì đã là một sự hồi sinh rồi.

Hãy nhìn xem anh ấy cắt tóc giúp những người lang thang và còn cho họ niềm tin…

Mark nói: “Vào ngày nghỉ, tôi đi trên đường tìm kiếm những người lang thang và cắt tóc cho họ, vô luận là cắt tóc hay chỉ là một lời nói, tôi đều mong muốn có thể thắp sáng lên niềm hy vọng cho họ”

Thứ mà Mark cắt bỏ đi là tóc nhưng thứ mà anh bù đắp cho họ lại là trái tim yêu thương. Một hình tượng tốt giống như chiếc chìa khóa có thể mở ra một cuộc đời mới.

Người như Mark không phải độc nhất vô nhị, ở tại Melbourne, Úc cũng có một người chuyên đi cắt tóc giúp người lang thang. Anh ta chính là “thợ cắt tóc đường phố” Nasir Sobhani. Mỗi ngày nghỉ cuối tuần, Sobhani đều dùng ván trượt để tìm người lang thang và cắt tóc giúp họ.

Bạn sẽ khó mà tưởng tượng được anh chàng tạo mẫu tóc trẻ trung này ba năm về trước lại là một người nghiện ngập. Anh ta nghiện thuốc phiện, ăn chơi khiến mỗi ngày tiêu tốn hết 300-400 USD. Sobhani đôi khi cũng hận tình trạng chán chường này, thậm chí không có cách nào đối mặt với chính mình. Sobhani bắt đầu thử cai nghiện, anh ta trở thành một người học việc của một hiệu cắt tóc. Trong thời gian ở đó, một công nhân vệ sinh đã nói với Sobhani rằng cậu ấy đã một tháng không hút heroin rồi và muốn thay đổi kiểu tóc để tự chúc mừng mình. Mẹ của người công nhân vệ sinh này sau khi nhìn thấy hình tượng mới của con trai đã bật khóc. Cảnh tượng này đã khiến Sobhani xúc động mạnh mẽ.

“Mỗi lần cắt tóc cho một người, sự cải biến mà nó mang lại không cách nào đánh giá được. Nếu như tôi có thể làm được việc đó để cổ vũ khích lệ tinh thần người khác, có lẽ tôi nên kiên trì làm.”

Sbahani khi cắt tóc cho những người lang thang cũng thường chia sẻ câu chuyện của mình. Những người lang thang này cũng được Sobhani đăng tải trên Instagram. Anh hy vọng với một cuộc nói chuyện và một kiểu tóc mới, có thể đem lại cho họ một cuộc sống mới.

Đã rất lâu rồi Sobhani không còn hút heroin nữa, anh nói: “Cắt tóc đã trở thành khoái cảm mới của tôi và bây giờ đây mới là thuốc phiện của tôi”.

Theo cmoney.tw
Nguồn: daikynguyen

Thứ Năm, 24 tháng 9, 2015

Đừng hỏi anh vì sao anh yêu em
Hãy hỏi mặt trời vì sao toả nắng
Hãy hỏi mặt trăng sao khi khuyết khi đầy
Đêm màu đen và ngày màu trắng
Đừng hỏi anh vì sao anh yêu em
Hãy hỏi biển tại sao có sóng
Sao gừng cay và sao muối mặn
Mùa thu trút lá vàng em có biết vì sao
Đừng bao giờ em hỏi anh tại sao
Anh chẳng biết làm sao cho em hiểu
Anh cảm thấy cuộc đời này còn thiếu
Một thứ gì,có lẽ chính là em
Em,một cô gái yêu sự bình yên
Em,một cô gái dịu dàng giản dị
Em,anh yêu em hình như cũng thế
Phía chân trời trước bóng tối hoàng hôn
Hãy làm gì để anh yêu nhiều hơn
Thay câu hỏi bằng nụ hôn cháy bỏng
Đến với anh bằng tình yêu rất nóng
Để muôn đời ta chảy mãi trong nhau…

Một tấm gương về sự hiến thân cho Phật Pháp 
52 năm ngày Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu.
Năm 1963. Lễ khánh thành nhà thờ ở La Vang (Quảng Trị) trùng vào dịp lễ Phật Đản.
- Ngày 6/4 (âm lịch): Tổng Thống Ngô Đình Diệm đi dự lễ khánh thành nhà thờ La Vang (Quảng Trị). Khi qua thành phố Huế, thấy cờ Phật Giáo treo rợp trời. Ngay lập tức, ông ra lệnh (bằng văn bản) bắt buộc hạ tất cả cờ Phật giáo xuống.
- Tối 8/4 (âm lịch - ngày lễ Phật Đản): Trong cuộc biểu tình trước quyết định "cấm treo cờ Phật giáo" tại Huế đã có 9 Phật tử bị bắn chết, nhiều người khác bị thương.
- Ngày 10/6 (tức 19/4 âm lich): Ủy ban liên phái bảo vệ Phật giáo đồng ý cho phép Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu theo tâm nguyện mà Ngài đã trình bày trong bức thư ngày 27/5 (nhưng khi đó Ùy ban đã không chấp nhận tâm nguyện này của Ngài). Đại đức Thích Đức Nghiệp đã đến gặp Hòa thượng để hỏi ý kiến và cho biết về sự đồng ý của Ủy ban nếu Ngài vẫn giữ tâm nguyện đó. Hòa thượng Thích Quảng Đức đã khẳng định rằng đó là tâm nguyện của Ngài. Tối hôm đó, Hòa thượng vẫn chủ trì khóa lễ Tịnh Độ tại Chánh điện của chùa Ấn Quang như thường lệ.
Kết thúc khóa lễ, Hòa thượng đã dặn lại với hai vị Đại đức (hai người đã đi chuông và đi mõ trong khóa lễ cuối cùng của cuộc đời Ngài) như sau:
"Vì đạo pháp tôi xin hiến thân giả huyễn nầy để cho Pháp Nạn được giải thoát. Ngày mai nầy tôi sẽ từ giã cõi đời, hẹn gặp hai Thầy ở cảnh giới Cực Lạc của Ðức Phật A-Di-Ðà. Sau khi tôi tự thiêu để hiến dâng cho Phật Pháp, xin các Thầy lưu ý, vì tôi không thể trực tiếp nói điều này với các Ngài lãnh đạo:
Một là, sau khi thân tôi thiêu thành tro bụi sẽ còn lưu lại một vật gì đó cho đời, thì đó là kết quả tốt đẹp về lời Phát nguyện của tôi hiến dâng thân này cho Ðạo Pháp và đó cũng là thành quả đời tu hành của tôi.
Hai là, khi tôi thiêu, nếu tôi chết trong tư thế nằm ngửa thì nguyện vọng Phật-Giáo sẽ thành công, các Thầy cứ tiếp tục tranh-đấu. Ngược lại nếu tôi chết nằm sấp thì quý Thầy nên tìm cách đi ra các nước Miên, Lào, Thái, v.v… để mà tu, nguyện vọng tranh đấu của Phật-Giáo sẽ không thành.
Ba là, ngày di quan tài của tôi, nếu các Thầy có cảm thấy triệu-chứng gì lạ lạ, có thể là ngủ mộng thấy, có thể là cảm giác hay triệu chứng gì thì nên đình chỉ ngay, dời việc di quan qua ngày khác".
- Ngày 11/6 (tức 20/4 âm lịch): Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu. Sau đó thân thể Ngài được đưa về chùa Xá Lợi để cầu kinh. Mấy ngày sau đem đi hỏa táng. Sau khi hỏa táng, các Tăng, Ni đã mở lò thiêu để lấy tro cốt thì phát hiện 1 vật bằng nắm tay lẫn lộn giữa những mảnh tro tàn. Mọi người bàng hoàng nhận ra vật đó là trái tim của Ngài.
Sự việc Hòa thượng Thích Quảng Đức tự thiêu ngay lập tức gây chấn động toàn thế giới và được tất cả các phương tiện truyền thông quốc tế đưa tin. Điều đó khiến cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm bắt buộc phải thỏa hiệp và ký vào bản hiệp định chấm dứt đàn áp Phật giáo, bỏ lệnh cấm treo cờ Phật giáo và cho phép tự do hoạt động tu hành và hoằng truyền Phật pháp.
Nghĩ lại ba điều Hòa-Thượng Quảng-Ðức nói đêm trước ngày tự thiêu đều hiển ứng:
1. Thân thể Ngài thiêu thành tro, mà quả tim của Ngài vẫn còn đỏ hồng như trái xoài chín dưới sức nóng 4.000 độ; nóng đến nỗi lò thiêu An-Dưỡng-Ðịa đã phải nứt nẻ.
2. Khi ngọn lửa thiêu thân vừa lặn tắt, ba lần cuối đầu xá về hướng Tây, liền ngay khi đó, Ngài bật ngửa nằm im trên mặt đất giữa ngã tư đường Phan-Ðình-Phùng và Lê-Văn-Duyệt trong tiếng niệm Phật vang dội của hàng trăm chư Tăng Ni đang ngồi vây quanh chấp tay thành kính. Tư thế viên-tịch đúng như Ngài huyền ký lại, làm cho Tăng tín đồ tin tưởng vào sự thành công nguyện vọng bình đẳng tôn giáo mà quyết tâm dấn thân hơn. Chung cuộc chánh nghĩa đã thắng.
3. Ai sống trong thời 1963, nếu có lưu tâm đến thời cuộc đều nhớ ngày di quan của Hòa-Thượng Quảng-Ðức ra An-Dưỡng-Ðịa để thiêu. Theo chương trình là 10 giờ sáng. Dân chúng ở hai bên đường Phan-Thanh-Giản và đường Minh-Mạng lập hương án để tiễn đưa Ngài; nhưng mọi người đợi mãi đến hơn 12 giờ trưa mà vẫn chẳng thấy đâu. Sau đó mới nhận được thông báo của Ủy-Ban Liên Phái Bảo Vệ Phật-Giáo cho biết dời ngày di-quan. Dân chúng lúc bấy giờ vô cùng bàng-hoàng kinh ngạc. Khoảng 2 giờ chiều hôm ấy, người ta thấy năm bảy người mặc sắc phục đen lặng lẽ từ dưới bờ ruộng bước lên gở những quả mìn đã được chôn từ lúc nào trên quãng đường đất dẫn đến lò thiêu của An-Dưỡng-Ðịa.
Sau 3 lần cúi sấp, nhục thân của Bồ-Tát Thích-Quảng-Ðức đã bật ngửa ra sau đem đến niềm tin thắng lợi cho cuộc tranh đấu vì đạo pháp của toàn thể Tăng tín đồ Phật-Giáo.
Còn đây là đoạn trích nguyên văn lời tâm nguyện của Hòa thượng Thích Quảng Đức trước lúc tự thiêu:
“Tôi pháp danh Thích Quảng Đức, Hòa thượng trụ trì Chùa Quán Âm Phú Nhuận (Gia Định).
Nhận thấy Phật giáo nước nhà đương lúc ngửa nghiêng, tôi là một tu sĩ mệnh danh là trưởng tử của Như Lai không lẽ cứ ngồi điềm nhiên tọa thị để cho Phật Pháp tiêu vong, nên tôi vui lòng phát nguyện thiêu thân giả tạm này cúng dường chư Phật để hồi hướng công đức bảo tồn Phật giáo.
Mong ơn mười phương chư Phật, chư Đại Đức Tăng Ni chứng minh cho tôi đạt thành chí nguyện như sau:
Mong ơn Phật Tổ gia hộ cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm sáng suốt chấp nhận năm nguyện vọng tối thiểu của Phật giáo Việt Nam ghi trong bản tuyên ngôn.
Nhờ ơn Phật từ bi gia hộ cho Phật giáo Việt Nam được trường cửu bất diệt.
Mong nhờ hồng ân chư Phật gia hộ cho chư Đại đức Tăng Ni, Phật tử Việt Nam tránh khỏi tai nạn khủng bố bắt bớ giam cầm của kẻ gian ác.
Cầu nguyện cho đất nước thanh bình, quốc dân an lạc.
Trước khi nhắm mắt về cảnh Phật, tôi trân trọng kính gởi lời cho Tổng Thống Ngô Đình Diệm nên lấy lòng bác ái từ bi đối với quốc dân và thi hành chánh sách bình đẳng tôn giáo để giữ vững nước nhà muôn thủa.
Tôi tha thiết kêu gọi chư Đại Đức Tăng Ni và Phật tử nên đoàn kết nhất trí hy sinh để bảo tồn Phật giáo.
Nam Mô Đấu Chiến Thắng Phật
Làm tại chùa Ấn Quang, ngày mùng 8 tháng 4 nhuần năm Quý Mão
Tỳ kheo Thích Quảng Đức
Kính bạch".
- Cũng không thể không nhắc đến điều này: Ngày 02/11/1963 (tức ngày 17/9 âm lịch), sau hỗn loạn đảo chính của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa (do tướng Dương Văn Minh chỉ huy) người ta đã tìm thấy xác của Tổng thống Ngô Đình Diệm cùng em trai (cố vấn Ngô Đình Nhu) trên một chiếc xe bọc thép với nhiều vết dao đâm và vết đạn súng lục. Tức là chính quyền của Tổng thống Ngô Đình Diệm và cuộc đời ông cũng đã kết thúc chỉ sau 4 tháng 21 ngày kể từ ngày tự thiêu của Bồ tát Hòa thượng Tỳ kheo Thích Quảng Đức.
Tóm lại, chiến tranh thật khủng khiếp. Cầu nguyện rằng sớm chấm dứt mọi cuộc chiến tranh trên thế giới này.
Cuộc đời mỗi con người quá ngắn ngủi. Mọi thứ có được đều sẽ mất đi, chẳng có gì bền lâu. Ngay cả Tần Thủy Hoàng, Thành Cát Tư Hãn, Naponeon, Võ Tắc Thiên, Washington... cũng chẳng giữ được giang sơn, chẳng giữ được mạng sống. Giang sơn rồi cũng vào tay người khác, mạng sống rồi cũng mất, của cải giàu sang rồi cũng vô nghĩa lúc trăm năm. Vậy thì tại sao họ không sử dụng cuộc đời ngắn ngủi để sống ý nghĩa hơn, để đem lại hạnh phúc cho bản thân mình và những người khác? Tất cả bởi ba nghiệp tham, sân, si mà làm khổ lẫn nhau. Ai biết đâu kẻ mình giết hại lại chính là cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cháu trong những đời kiếp trước. Hành trình của chúng ta dài lắm, cuộc đời này chỉ là một khúc ngắn ngủi, nếu không nhanh chuẩn bị hành trang công đức, trí tuệ và thành tựu pháp thì kiếp sống tiếp theo biết trôi lăn về đâu trong sáu đạo luân hồi?
Chiến tranh không có người chiến thắng, tất cả đều thảm hại như nhau, nỗi khổ đau mà không thứ gì bù đắp nổi. Đó cũng là lí do tại sao năm 1959 khi Trung Quốc đánh chiếm đất nước Tây Tạng, Đức Dalai Lama (là người đứng đầu đất nước Tây Tạng khi đó và cả đất nước Tây Tạng đang lưu vong ở Bắc Ấn Độ bây giờ) đã không đánh lại, Ngài đã dẫn theo dân chúng bỏ nước ra đi, sang Ấn Độ sống lưu vong. Rồi sau đó nỗ lực đi tìm hòa bình bằng những hành động hòa giải. Ngài nhất định không cho phép bất cứ chúng sinh nào mất mạng. Bởi giặc cũng là người, giết giặc cũng là giết người, cũng là một chúng sinh phải mất mạng trong đau khổ mà không cứu vãn nổi...
Cho nên, chúng ta đừng bao giờ quên rằng cuộc đời này rất ngắn, không đáng để phí phạm bất cứ giây phút nào để tạo ra nhân duyên cho khổ đau... Mà chúng ta hãy sống thật ý nghĩa, thật hạnh phúc, cho mình và cho hết thảy chúng sinh.
Nam mô A Mi Đà Phật !

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2015



Nhà thơ H.T bảo ”Trong các buổi họp, anh Chế Lan Viên hay dìm tôi lắm”. Lời phàn nàn đến tai Chế. Ông bác lại:

- Người ta có nổi thì tôi mới dìm được. Đằng này ông H.T. ấy có nổi bao giờ?



Trong kho tàng ngôn ngữ Việt Nam, chữ trạng dành để chỉ một lớp người đặc biệt. Theo nghĩa thông thường, đó là những người giỏi giang, học vấn cao, đọc nhiều sách thánh hiền, và thường là thành công trên đường hoạn lộ (Trạng là cái cách gọi tắt của chữ trạng nguyên, danh hiệu để chỉ những người đỗ cao nhất trong các cuộc thi quốc gia do nhà vua chủ trì). Nhưng trong ý niệm dân gian, chữ trạng còn kèm theo một ý nghĩa cụ thể nữa: đó là những người lém lỉnh, ranh mãnh, ứng xử giỏi, đặc biệt thành công trong một lĩnh vực nào đó, một sự thành công đến mức siêu việt mà chỉ giải thích bằng sự nghiêm cẩn học vấn không đủ, phải cộng thêm vào đó nhiều thủ thuật dân gian nữa. Người ta dùng chữ trạng đặt trước tên ai đó: Trạng Cờ, Trạng Vật. Và ai nói giỏi, thì người ta ví : nói như trạng. 

Bao nhiêu cuộc thi của các triều đình phong kiến, để lại bao nhiêu trạng nguyên, nhưng những ông trạng ấy, mấy ai được nhắc tới bây giờ. Trong khi đó, nghĩ đến trạng, là người ta liên tưởng ngay đến Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, những trí thức dân gian mà đến nay, người ta còn kể lại cho nhau nghe, hết sức thú vị và chắc chắn, nếu được phân tích kỹ, có thể cho thấy quan niệm của người Việt Nam về khuôn mặt giới trí thức có thể có.

Nhiều người sống qua những năm Cách mạng, đặc biệt những năm chống Mỹ, thường nhớ tới Chế Lan Viên như một người nói giỏi, thuyết khách giỏi, chứng minh giỏi. Không đỗ đạt cao nhưng biết sử dụng kiến thức của mình. Ranh mãnh mà lại hồn nhiên, hình như thích nói, chỉ lấy nói làm sướng, nói hay hơn mọi người làm chuyện tự hào. Trong một ý nghĩ nào đó, có thể gọi đấy là một thứ trạng của thời đại này. Dù công việc không rộng ra các vấn đề chung của quốc gia, mà chỉ thu hẹp trong giới văn nghệ, nhưng vì ở Việt Nam, trong những năm sau cách mạng, không có sự bận tâm nào của giới văn nghệ sâu sắc hơn sự bận tâm tới các vấn đề quốc gia - cho nên, Chế Lan Viên cũng được rất nhiều người biết tới.

Chế Lan Viên, quê ở Nghệ An, nhưng lại lớn lên ở Bình Định. Vùng đất này của miền Trung là quê hương của nhiều nhà thơ “tiền chiến” nổi tiếng: Bích Khê, Hàn Mặc Tử… Trong sự phát triển muộn mằn của mình, nền thơ Việt Nam hiện đại, sớm trải qua tất cả các giai đoạn phát triển tiêu biểu: từ tiếng thơ nồng nhiệt yêu đời của Xuân Diệu sang thơ điên, thơ loạn của Bích Khê, Hàn Mặc Tử, chỉ có một quãng thời gian ngắn ngủi. Chế Lan Viên không những gần gũi với mấy nhà thơ trên ở tình đồng hương, mà còn ở xu thế tìm tòi của mình. Cái tên Chế Lan Viên, gợi nhớ đến Chế Bồng Nga, vị vua Chiêm thuở nào. Nói về Chiêm Thành để nói lên cảm giác về một cái gì lớn lao giờ bị mất mát. Nhiều khi trong thơ gợi lên hình ảnh ma quái, cho nên gây ấn tượng kinh dị.

Suốt một thời gian dài, thơ Hàn Mặc Tử, thơ Bích Khê bị giới nghiên cứu văn học Hà Nội đẩy vào bóng tối. Nền văn học thuộc về quần chúng trong cái trong sáng, cái dễ hiểu, không thể chấp nhận được những tìm tòi siêu hình kiểu đó. Bản thân Chế Lan Viên hình như cũng muốn quên đi thơ của mình, không coi đó là niềm tự hào như Xuân Diệu. Điều này diễn ra suốt mấy chục năm trời, cho đến 1985-1986: Khi làm tuyển của mình (seri in ở nhà xuất bản Văn Học), trong khi Xuân Diệu lấy lại gần hết Thơ thơ, Gửi hương cho gió, thì Chế Lan Viên chỉ lấy lưa thưa dăm ba bài, không đáng kể . Phải tới 1987, 1986, quan niệm này của Chế Lan Viên mới lung lay một chút. Khi làm tuyển thơ Hàn Mặc Tử, thơ Bích Khê, ( việc do nhà xuất bản Nghĩa Bình nhờ), Chế Lan Viên xuất hiện với những bài giới thiệu hết sức ca ngợi trường thơ gọi là điên loạn kia, và miêu tả các nhà thơ đó, như những người gần gũi với cách mạng, chỉ một chút xíu nữa trở thành cốt cán của cách mạng như chính mình.

Thoạt nhìn, thì đây là một ví dụ về tính đỏng đảnh của Chế Lan Viên một người lúc nói thì thế này, lúc nói thế khác, và lúc nào nói cũng đầy tâm huyết, cũng hết sức thuyết phục cả.

Ở một phương diện khác, lại có thể thấy cách giải thích sau này của Chế Lan Viên cũng cực kỳ sâu sắc. Cái kỳ lạ của cuộc cách mạng Việt Nam là nó mang vào mình đủ mọi tầng lớp khác nhau. Trong đó, có những người hình như chả dây dưa gì với Cách mạng cả. Mới đây thôi (1988) ở Hà Nội có cuộc thảo luận về chức năng của văn học. Nhiều người bắt đầu nói tới tính dự báo: văn học giống như một thứ tiên tri, báo truớc những điều xảy ra. Giá kể trong một trường hợp khác, cần ủng hộ ý kiến ấy, thì Chế cũng tìm ngay được dẫn chứng trong văn học Đông Tây kim cổ để chứng minh cho tính đúng đắn của nó. Nhưng lần này, tình thế buộc Chế phải đứng ở phía đối lập, và ông tìm ngay ra một dẫn chứng hết sức thuyết phục. Cứ xem văn học Việt Nam thì biết. Đọc văn học Việt Nam trước 1945 ai ngờ là sẽ có cách mạng xảy ra (Đây là một câu chuyện hết sức thú vị, chúng tôi mong có dịp trở lại khi bàn về mối quan hệ giữa văn học và cách mạng). Trong một dịp khác Chế Lan Viên kể vắn tắt và cụ thể hơn: Lúc cách mạng xảy ra, ông ở bờ biển Nha Trang. Đang tắm thì thấy người ta biểu tình đi qua. Thế là nhà thơ chạy theo. Có lẽ bấy giờ chính ông cũng không ngờ là có lúc, ông trở thành một nhà thơ phát ngôn của cách mạng, ở một thời điểm quan trọng những năm chống Mỹ


Vai trò mờ nhạt trong kháng chiến và đầu hoà bình.

Trung tâm của văn học kháng chiến là ở Việt Bắc, mà những năm này, Chế Lan Viên lại ở chiến trường Trị Thiên. Những sáng tác của ông bấy giờ còn rất thưa thớt, sau này tập hợp lại, trong tập "Gửi các anh". Ở tập thơ có khoảng vài chục trang này người ta bắt gặp một Chế Lan Viên rất hỗn tạp, có những bài cao giọng nhưng lại có những bài tập theo lối dân gian (Bữa cơm thường trong bản nhỏ sau này thường được chọn như là một đỉnh cao trong thơ Chế Lan Viên hồi kháng chiến). Nhưng ngay lúc ấy, Chế Lan Viên đã có một cuốn tiểu luận mỏng.

Sau này, trong một cuộc tranh luận, Lại Nguyên Ân mỉa mai: thế là một bậc thày của văn học cũ, lại sớm trở thành người rao giảng lý luận của nền văn học mới.

Nhìn chung lại, cho đến trước 1958, vai trò của Chế Lan Viên chưa có gì đáng kể. Thời gian 1945-1946 - thời gian Xuân Diệu ở trong ban biên tập tạp chí "Tiên Phong" , trở thành đại biểu Quốc hội, đi Pháp, viết tráng ca Ngọn quốc kỳ, thì Chế Lan Viên hoàn toàn không thấy xuất đầu lộ diện. Thời gian sau, người ta cũng không thể mang một ít thành tựu chịu đựng gian khổ của Chế ra so với những hoạt động rộng rãi của Xuân Diệu, như đi bình thơ, như giữ mục "Tiếng thơ" trên Đài tiếng nói Việt Nam và cùng Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng làm tạp chí Văn Nghệ.

Đến đầu hoà bình, Chế Lan Viên lại bị một bệnh hiểm nghèo so với tình hình lúc ấy - bệnh lao, và phải đi Trung Quốc điều trị. Sự vắng mặt ở Hà Nội khiến cho Chế Lan Viên không có vai trò gì nổi bật, trong vụ Nhân văn-Giai phẩm - không dao động chút ít, đủ để phải kiểm điểm, như Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, cũng không làm việc “truy kích” những tàn dư của cánh Nhân văn, như Xuân Diệu gọi công việc của mình, những năm 1958. Chuyến đi Trung Quốc chỉ tạo cho Chế Lan Viên một dịp suy nghĩ nghiền ngẫm về nghề nghiệp, và những quan hệ tốt với Trung Quốc mà ông sẽ gìn giữ cho đến trước cuộc xung đột Trung-Việt (1978)


Sự sống lại trong thơ đến những bước bột phát trên đường hoạn lộ

Tập thơ hay nhất của đời thơ Chế Lan Viên, Ánh sáng và phù sa, in ra năm 1960, và những bài chủ yếu trong tập, cũng chỉ được làm cách đó ít lâu, 1958, 59 gì đó. Bây giờ nhìn lại, thì thấy sau cuộc đấu tranh Nhân văn-Giai phẩm, có một hiện tượng kỳ lạ: nền văn học không những không bị tàn phá, mà lại có được sức sống mới: Nguyễn Tuân có "Sông Đà", Xuân Diệu có "Riêng chung", Nguyễn Khải cho in "Xung đột", Bùi Đức Ái bắt đầu nổi tiếng với "Một chuyện chép ở bệnh viện". Điều này không có nghĩa là đấu tranh chống Nhân văn hoàn toàn đúng đắn như sau này người ta giải thích, mà có lẽ nên tìm lý do ở sự hạn chế của nhu cầu dân chủ lúc ấy. Kháng chiến chống Pháp là một cuộc chiến tranh rất gian lao nhưng vẫn còn ở mức mà dân tộc này có thể chịu đựng được. Sự hồi sinh của dân tộc bắt đầu vào những năm sau 1954, sẽ lên đến đỉnh cao vào những năm 1960-61. Đấy là một ít năm tháng thịnh trị nhất trong đời sống Việt Nam sau cách mạng. Giữa con người với hoàn cảnh có một sự hoà hợp tuyệt vời, hầu như người ta có thể đạt được gần hết những điều người ta nghĩ. Do sự hạn chế của tầm nhìn, số đông còn dửng dưng trước nhu cầu dân chủ, và không hề thấy rằng ít nhiều Nhân văn-giai phẩm đấu tranh cho chính cái phần quyền lợi của mình. Vì thế, cho nên, “không khí phấn khởi” - như chữ người ta thường nói - sau vụ Nhân văn giai phẩm là có thật. Ở trường hợp của Chế Lan Viên, thì cuộc đời lúc ấy lại hai lần đáng yêu, vì nó, là cuộc sống mà hôm qua, tưởng đã mất hẳn. "Giữa tết trồng cây" và "Tình ca ban mai"… những bài thơ mang hơi thở phập phồng của sự sống ở một người khỏi bệnh, cho nên có sự quyến rũ rất chân thành. Giá kể chỉ dừng lại ở đây thôi, thì thơ Chế Lan Viên cũng đã hay lắm.

Nhưng từ sau "Ánh sáng và phù sa", Chế Lan Viên cũng bắt đầu một chặng đường mới trong cuộc đời của mình. Từ thung lũng đau thương đến cánh đồng vui là tên một bài tiểu luận rất hay người ta đọc được trên tạp chí Văn nghệ 5-1961. Và nhiều người lập tức hiểu rằng từ nay, đây sẽ là người phát ngôn cho những đánh giá chính thức về nền thơ Việt Nam. Liên tiếp, Chế Lan Viên xuất hiện với các bài đánh giá chung về thơ Việt Nam 1945-60, về thơ Tố Hữu… Nhà thơ và nhà lý luận song hành, đó là dấu hiệu của những người chủ trì của những cốt cán như Nguyễn Đình Thi, Xuân Diệu…


Một bậc thày

Thông qua một người bạn là Xuân Quỳnh, tôi có dịp làm quen với lao động nghề nghiệp của Chế Lan Viên từ những năm 67-68.

Nguyên hồi ấy, Xuân Quỳnh phải vừa lo học thêm về văn, vừa học thêm tiếng Pháp. Một người mới vào nghề trước Xuân Quỳnh ít lâu là Vũ Thị Thường cũng phải học vậy. “Tốt nhất là đối chiếu những bài thơ tiếng Pháp với bản dịch tiếng Việt, một công đôi việc, thật tiện.” Người có sáng kiến này chính là Chế Lan Viên. Vũ Thị Thường thấy phải, rủ Xuân Quỳnh học cùng. Và thế là đi đâu tôi cũng thấy trong cái làn của Xuân Quỳnh có một quyển sổ rất dày chép những bài thơ tác giả "Điêu tàn" dịch từ tiếng Pháp sang cho Vũ Thị Thường và Xuân Quỳnh học. Ấy là những bài thơ của Apollinaire, S.Prudhomme, Brecht, Evtouchenko… Người nào đã quen với thơ dịch trên báo đều biết: do yêu cầu có vần, nhiều khi bài thơ dịch lủng củng về vần ngô nghê tầm thường về ý, đọc rất khó chịu. Còn trong những bản dịch ra văn xuôi, nhất là ở một người thông thạo cả thơ lẫn tiếng Pháp như Chế Lan Viên, chất thơ hiện ra thân tình và bất ngờ. Lại mộc mạc nữa. Nên đọc rất thích.

Chúng tôi vừa đọc vừa nghĩ đến một nền văn học Pháp xa vời mà thế thệ chúng tôi không bao giờ với tới.
Thế mà những nhà thơ đàn anh như Xuân Diệu, như Chế Lan Viên lại sinh ra từ đấy… Đáng sợ thế chứ!
Một điều nữa, cũng để lại ngạc nhiên trong tôi là sự thông thạo của Chế về thơ Đường. Trong bài giới thiệu bộ "Thơ Đường" hai tập in ra 1963, Nam Trân có kể là đã nhờ những người sành về thơ Đường, như Thế Lữ, như Chế Lan Viên soát lại cho lần cuối cùng bộ sách ấy. Tôi đọc mà gần như không tin ở mắt mình. Nhưng đúng là thế chứ còn sao nữa. Không thế sao trong "Ánh sáng và phù sa" lại có những bài tứ tuyệt cỡ cổ điển: "Nhớ xuôi trông mãi mảnh tin nhà"… hoặc "Hết nhớ hoa thôi lại nhớ người".

Khoảng 1973, sau một lần đi công tác với Chế Lan Viên vào đường 559, Nguyễn Minh Châu trở về còn cứ ngạc nhiên mãi về “bố” Chế. Nghĩa là “bố” rất lạ. Mỗi sáng dậy, phải học thêm một bài thơ Đường. Để làm gì không biết, nhưng cứ học cái đã và học thật đều. Người ta có thể không muốn bắt chước (đúng hơn, không thể bắt chước), nhưng người ta phải bái phục!

Cũng đáng bái phục là lao động của Chế Lan Viên trên từng câu thơ. Một lần Xuân Quỳnh dẫn ra một ví dụ

- Vinh quang nhất là những người nổ súng
Vinh quang hơn là những kẻ đi đầu
(Bài "Trận tuyến này cao hơn cả màu da")

Lối nói Vinh quang hơn…, tiếp sau Vinh quang nhất… cái lối nói rất tây ấy, đối với chúng tôi, là cái gì không bình thường.

Xuân Quỳnh còn kể: Chế Lan Viên có lối làm thơ sẵn, ghi vào sổ từng câu thơ hoặc vài câu thơ một. Sau đó khi có tứ, có cả bài, thì lắp vào những chỗ cần thiết. Giống như người ta đúc sẵn những tấm pa-nen để rồi khi cần sẽ dùng cần cẩu, cẩu tới ghép nên căn nhà. Cách viết ấy, trong giới làm thơ đâu có nhiều người biết áp dụng!

Hồi đầu chống Mỹ, nhóm anh em làm thơ trẻ khá đông. ồn ào, nhốn nháo như bất cứ đám trẻ nào, những Bằng Việt, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương, Trúc Thông, Trí Dũng, Hoàng Hưng, Thi Hoàng, Lưu Quang Vũ, Phạm Tiến Duật… thường đặt ra với nhau một câu hỏi: "Theo ai bây giờ, theo Xuân Diệu hay Chế Lan Viên?" Người nói phải theo Xuân Diệu. Vì Xuân Diệu tự nhiên. Người nói phải theo Chế Lan Viên. Vì Chế Lan Viên hiện đại. Số người nghĩ rằng phải theo Chế Lan Viên đông hơn (nói nghĩ rằng vì có khi nghĩ một đằng làm một nẻo, có ai có tôn chỉ chặt chẽ đâu). Một bậc cao niên trong nghề, nhà thơ Khương Hữu Dụng cũng tán đồng và giải thích hiện tượng này như sau:

- Ông Xuân Diệu là một người được trời phú. Còn ông Chế Lan Viên lấy công phu làm đầu. Theo người dụng công là phải.

Ngoài giai thoại “mỗi ngày học thuộc một bài thơ Đường”, chúng tôi còn được nghe nhà văn Nguyễn Thành Long kể: trước cách mạng, có lần Chế Lan Viên ra Hà Nội chỉ dể đọc sách. Ngày nào cũng tới thư viện. Xong là về! Thật là một ý chí đáng vì nể! Cộng với lối nói lối viết như thế nào đó làm cho người ta cảm thấy lúc nào ông cũng đọc, cũng đối thoại với những vấn để rất trừu tượng (có những người đọc đọc nhiều mà lẫn đi, giấu đi, không thấy dấu vết của những điều đã đọc trên trang giấy), Chế Lan Viên thật đã có cốt cách của một nhà thơ trí thức.

- Tại sao một người có thể làm việc nhiều như thế?

Đấy là câu hỏi tôi thường nghe được từ miệng nhiều người, qua đó họ tỏ ý thán phục Chế Lan Viên.
Tuy nhiên, đây đó cũng đã bắt đầu có người nói: chẳng qua Chế Lan Viên có một lối nói lợi hại. Ấy là một người lợi khẩu, một thứ trạng của nước An Nam xưa, nay tái sinh.

Nghe Chế Lan Viên nói nhiều khi sướng tai thật!

Nhà thơ H.T bảo ”Trong các buổi họp, anh Chế Lan Viên hay dìm tôi lắm”. Lời phàn nàn đến tai Chế. Ông bác lại:

- Người ta có nổi thì tôi mới dìm được. Đằng này ông H.T. ấy có nổi bao giờ?

Một lần khác, một người cho rằng ra tờ "Tác Phẩm Mới thêm" làm gì, nó cũng giống hệt như tờ "Văn Nghệ".

- Nhưng còn rộng chỗ đăng. Ba thằng giống nhau còn hơn một thằng tự giống mình.

Trong các buổi họp thơ, ý kiến của Xuân Diệu và Chế Lan Viên thường khi là sắc sảo nhất, nhưng cũng lại thường trái ngược nhau, và nếu không có cả hai ý kiến ấy, buổi họp mất vui. Xuân Diệu có cái tâm huyết của mình, nhưng thường nói quá lên, đôi khi rất hớ. Chỉ cần phát hiện đúng chỗ yếu rồi điểm huyệt là tác giả "Thơ thơ" quỵ ngay. Ngươi biết làm cái việc điểm huyệt ấy thật giỏi là Chế Lan Viên. Xuân Diệu phàn nàn:

- Anh Chế Lan Viên anh ấy tài nói lắm. Có sai đứt đuôi đi nữa, anh ấy cũng vặn vẹo để đúng hơn mình. Về nhà mới biết rằng anh ấy nguỵ biện, nhưng lúc ấy, ôi thôi, mọi việc đã xong rồi.

Vâng, cái sắc sảo của Chế Lan Viên nhiều khi biến thành nguỵ biện. Nghe một lần thì thú, về sau đâm nhàm. Điều này rất rõ với văn xuôi Chế Lan Viên.

Hình như nhà thơ cũng biết chỗ chỗ yếu của mình như thế. Nghe đồn là con người mang bút hiệu Chàng Văn có lần lẩy Kiều:

- Cái nghề văn xuổi từ sau xin chừa.

Riêng tôi, tôi hay tự hỏi: Một phẩm cách quan trọng của trí thức là phải biết hoài nghi. Phải dè chừng. Phải nghĩ rằng lời nói của mình có thể sai có thể đúng. Chế Lan Viên thì bao giờ cũng tuyệt đối hoá ý kiến của mình, cũng cho các ý kiến ấy mang hình thái một định lý vĩnh cửu. Cái đó là phi trí thức chăng.

Một điều khiến tôi cũng lạ là mặc dù nói năng rất đàng hoàng vậy, nhưng Chế Lan Viên ăn ở rất lúi xùi, lối sống mang nặng cốt cách nhà nho nghèo ngày trước, có vẻ như không trọng vật chất, không cần tiện nghi. ‘Trong cách cư xử hàng ngày, đôi lúc ở ông thấy đắp đổi những trạng thái trái ngược nhau, sang trọng đàng hoàng đấy, mà cũng nhếch nhác thảm hại đấy.

Câu chuyện sau đây xảy ra vào hồi 1980. Nhà xuất bản của chúng tôi nhận được tập bản thảo Từ gác Khuê văn đến quán Trung Tân, còn đang tính kế hoạch in thì Chế Lan Viên đến.

- Thế nào, bao giờ các anh in?

- Thưa anh để chúng tôi còn xem xem vì kế hoạch năm tới đủ rồi.

Thế là Chế Lan Viên nổi xung lên:

- Bây giờ mà đã xong kế hoạch hả? Thế thì trả tôi, để tôi về tôi chùi giầy!

Rồi nhân cơn thịnh nộ, không kìm được, ông tuyên bố:

- Tôi là một trong những sáng lập viên của nhà xuất bản. Để tôi lại đề nghị giải tán nhà xuất bản, chứ bây giờ mà đã xong kế hoạch rồi à?

Có hai việc chúng tôi đã làm sau cơn giận dỗi ấy của Chế Lan Viên. Một là đảo lại kế hoach, đưa Từ gác Khuê văn đến quan Trung Tân in ngay trong năm 1981. Hai là, trong một đợt sinh hoạt chính trị, chúng tôi phê bình là Chế Lan Viên áp chế anh em. Điều kỳ lạ là hôm qua Chế Lan Viên chân thành bao nhiêu trong cơn giận của mình, thì hôm nay, Chế Lan Viên cũng chân thành bấy nhiêu trong sự hối hận. Rưng rưng cảm động, mắt đỏ lên vì những giọt nước mắt không sao ngăn nổi, ông nói như nói với ai khác, chứ không phải những người ông đã quát nạt hôm qua:

- Chế Lan Viên tôi mà lại còn tính chuyện áp chế ai!

Sau này, tôi mới biết rằng sở dĩ Chế Lan Viên cố ép Tác Phẩm Mới in ngày Từ gác Khuê văn… là bởi cũng năm ấy, nhà Văn Học ra cho ông tập Nghĩ cạnh dòng thơ. Nếu Nghĩ cạnh dòng thơ ra trước, thì Từ gác Khuê văn hết lý do để đến với bạn đọc. Khốn khổ! Thì nó cũng là cái bệnh thường thấy ở các nhà văn: bệnh muốn có mặt thật nhiều. Tuyển tập Xuân Diệu, 238 bài, thì Tuyển tập Chế Lan Viên phải 243 bài. Tôi nghĩ, giá đời sống được đảm bảo hơn, lý tưởng nghề nghiệp cao xa hơn, chắc các bậc đàn anh trong nghề chẳng phải khổ sở vì những chuyện vặt vãnh kiểu ấy.

Cho đến những ngày cuối đời, cuộc sống hàng ngày của Chế Lan Viên vẫn rất đạm bạc. Tên cái địa điểm, thường ký bên cạnh các bài viết của ông lúc này là: Viên Tĩnh Viên. Nghe thật sang, nhưng khốn khổ có gì đâu, một căn nhà hẹp ở ngoại ô Sài Gòn cũ!

Ở đó, Chế Lan Viên vẫn là mình. Ở đó, ông nói những chuyện cao xa của thời đại. Ở đó, ông bàn chuyện đổi mới cho văn học cả nước “Đổi mới chứ không phải là đổ máu..” “Thà phải đạo còn hơn phản đạo”. Với lối viết, lối nói sắc như dao, người này mà đứng về phía nào thì phía kia chỉ có chết! Nhưng cũng giống như bên cạnh những bài thơ câu cú thật dài, ý tưởng thật quyết liệt - những bài thơ đánh giặc, như Chế Lan Viên gọi - lại còn có những bài tứ tuyệt Hoa gạo, Tập qua hàng, Em về Dương liễu thôn… Giờ đây, bên cạnh những ham hố đấu người này trị người kia, Chế Lan Viên lại có những ý nghĩ rất hư vô về cuộc đời, mà bài thơ Từ Thế thi ca, lá thư gửi nhà văn Nguyễn Minh Châu, những lời dặn dò vợ con khi lên bàn mổ… là những chứng minh. Và trong hướng đi này, Chế Lan Viên cũng đi xa hơn ai hết!

Cái hoài nghi trí thức mà tôi mong mỏi thấy ở Chế Lan Viên lúc đang sung sức, cái hoài nghi ấy thật ra vẫn tiềm ẩn trong ông và đến lúc chết mới trình diện đầy đủ chăng? -Tôi nghĩ.

Trong đời, tôi không có may mắn được nói chuyện nhiều với ông. Sự quyết liệt thái quá của Chế làm cho một số chúng tôi ngại ngần khi đến với ông. Nhưng vượt lên trên mọi sự yêu ghét, chúng tôi hiểu ông vẫn là một bộ mặt tiêu biểu của thời đại. Nếu nói đến phê bình văn học một thời, phải nói đến Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc, Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức… thì nói đến thơ một thời phải nói đến những Xuân Diệu, Huy Cận, Tế Hanh và một người đứng ở hàng đầu, ở ngay bên Xuân Diệu, cũng giỏi viết tiểu luận như Xuân Diệu và tuy không công phu nhưng lại sắc sảo hơn Xuân Diệu nữa, người ấy là Chế Lan Viên!

Nguồn:http://vuongdangbi.blogspot.com/2008/09/ch-lan-vin.html

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2015

Người Việt cũng giống các dân tộc khác, cũng muốn sống đời đời kiếp kiếp mà những bí ẩn về thuật ướp xác được nghiên cứu vừa qua là một minh chứng cho khát vọng phi thường ấy.
“Cái gì khô héo hơn cọng rơm khô? – Một trái tim đau buồn… – Cái gì lạ lùng nhất đời? – Ai cũng thấy chúng sinh đi về cõi âm ty, nhưng ai còn sống thì lại tìm cách sống đời đời kiếp kiếp. Đấy là điều lạ lùng nhất…” (trích Mahabharata – sử thi Ấn Độ vĩ đại, tác phẩm được coi là mênh mông và lớn lao hơn cả “Iliad và Odyssey” của Homer). Người Việt cũng giống các dân tộc khác, cũng muốn sống đời đời kiếp kiếp mà những bí ẩn về thuật ướp xác được nghiên cứu vừa qua là một minh chứng cho khát vọng phi thường ấy.
1. Đưa xác thiền sư… nhập viện
Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh sau khi tu bổ
Nhục thân của ba vị thiền sư Vũ Khắc Minh, Vũ Khắc Trường, Như Trí được phát hiện ở chùa Đậu và chùa Phật Tích đã làm chấn động giới khoa học, đặc biệt là ngành khảo cổ học Việt Nam. Những bức tượng cũ kỹ, nhuốm màu thời gian tưởng chừng chỉ tồn tại như là một biểu tượng linh thiêng trong lòng Phật tử nhưng có ai ngờ, đó là những di hài thực sự của người đã viên tịch trong khi ngồi thiền với mục đích để thân thể của họ trở nên vĩnh cửu.
PGS.TS Nguyễn Lân Cường là một trong những nhà nhân chủng học hàng đầu và là người duy nhất của Việt Nam được đào tạo chuyên ngành phục chế lại mặt theo xương sọ tại Viện Hàn lâm CHDC Đức (cũ). Ông là nhân vật chủ chốt trong việc phát hiện và phục chế nhục thân của các vị thiền sư và từ những nghiên cứu này đã hé mở ra một phương pháp ướp xác kỳ diệu nhờ vào năng lực đặc biệt của các vị thiền sư mà có lẽ người đời vốn chỉ được nghe trong… truyền thuyết!
Bắt đầu từ cái gác chuông bị dột
Chùa Đậu, ngày 3/5/1983. PGS Nguyễn Lân Cường đứng trên gác chuông rêu phong, gió phần phật bay làm rối bù mái tóc của ông. Chùa Đậu là ngôi chùa cổ, cách trung tâm thủ đô khoảng 25 cây số, đã được Nhà nước công nhận là Di tích lịch sử từ năm 1960. Trước cửa tam quan có một đầm sen, xung quanh chùa là mênh mông nước nên nhìn từ trên xuống, ngôi chùa như một đóa sen dập dềnh trong sương sớm.
PGS Nguyễn Lân Cường chợt nhớ về  câu chuyện GS.TS Tô Ngọc Thanh sau một lần về thăm chùa Đậu đã phát hiện gác chuông nhà thờ bị hỏng nặng. Điều đặc biệt là, GS Thanh đã nói đến 2 pho tượng cổ trong chùa có hình dáng vô cùng kỳ lạ.
Ông giật mình vội vã chạy xuống phía dưới. Ông đứng lặng yên bên chiếc am nhỏ phía bên phải cửa chùa. Đây là am thờ thiền sư Vũ Khắc Minh và trong am vẫn còn nguyên pho tượng mà thời gian đã làm ẩm mốc, tróc lở. Tượng thiền sư ngồi trong am, sau tấm mành tre, gương mặt như suy tư về cõi Phật. Đầu thiền sư hơi cúi xuống, lưng cong gập, hai tay đặt trước bụng, chân ngồi thiền khoanh tròn, bàn chân trái ngửa vắt lên đùi phải. Đây là một thế ngồi tương tự như rất nhiều tượng Phật khác, đó là thế ngồi Kết Già Phu Tọa. Phần chân của tượng thiền sư Vũ Khắc Minh đúng với cách ngồi Cát Tường. Theo GS Nguyễn Khắc Viện thì đây là cách ngồi tốt nhất để tập trung tư tưởng, gọi là tọa thiền chủ động, tọa thiền để rồi nhập thiền. Trong quá trình này, người ngồi thiền có thể chủ động về sinh lý ngay từ trước cho đến lúc tập trung cao độ và đến giai đoạn như pho tượng đang diễn tả thì hầu như không còn cảm giác nữa.
Như có điều gì đó thôi thúc, ông Cường xem xét tỉ mỉ từng chi tiết của pho tượng này. Ông phát hiện thấy hai vết nứt ở đầu gối nhưng đã được gắn lại vội vã bằng sơn ta. Vùng trán và hai hốc mắt cũng xuất hiện một số vết nứt. Có vết nứt rất lớn từ đỉnh đầu chạy theo đường khớp dọc của xương sọ, vòng xuống bên trái xương trán, vắt qua chân mày rồi tách thành ba vết nứt khác; một vết nứt nữa chạy từ gốc cánh mũi trái xuống phía dưới qua phía ngoài của khe miệng.
Sau vài ngày “chăm sóc đặc biệt” pho tượng, bằng sự nhạy cảm của nhà nhân chủng học nhiều kinh nghiệm, ông Cường đã đưa ra một nghi vấn rùng mình: trong pho tượng có xương người, tức là bức tượng này là tượng người thật chứ không phải tượng đồng hay gỗ!
Muốn khẳng định sự thật này thì đương nhiên, ông Cường không thể “mổ” pho tượng ra để xem được, thậm chí, ông không thể và không dám đập vỡ bất cứ bộ phận nào của pho tượng.
Phim chụp X quang xương sọ của thiền sư Vũ Khắc Minh
Không còn cách nào khác, ông Cường liều lĩnh đề nghị được đưa pho tượng đi bệnh viện để… chụp X-quang. Ông muốn chứng minh 3 điều: trong bức tượng không hề có cốt kim loại, hoặc gỗ để làm khung liên kết các xương; không hề có chất dính để dính các xương vào với nhau; các xương nằm theo đúng vị trí giải phẫu.
Đây là một đề nghị rất khó chấp nhận và chưa có tiền lệ. Pho tượng này đã nằm ở chùa Đậu rất lâu và nổi tiếng linh thiêng. Việc đưa tượng đi viện sẽ làm nhiều Phật tử hiểu lầm rằng, đó là việc báng bổ và bất kính. Thế nhưng, với sự nhiệt tình của mình, ông Cường đã giải thích cặn kẽ mục đích của mình cho trụ trì nhà chùa và cuối cùng đã nhận được sự đồng ý.
Chiều ngày 25/5/1983, ông Cường trực tiếp chỉ đạo đưa bức tượng “nhập” Bệnh viện Bạch Mai, Hà Nội. Ông nhớ lại: “Việc đó chúng tôi phải làm thật nhanh gọn, tránh để nhiều người biết vì sợ có sự  cản trở. Chúng tôi đưa thẳng bức tượng vào Khoa X-quang, với sự giúp đỡ tận tình của PGS Đặng Văn Ấn, lúc đó là Chủ nhiệm Khoa, các kỹ thuật viên đã tiến hành chụp soi phần sọ, ổ ngực và ổ bụng. Sự thật đúng như chúng tôi dự đoán, bức tượng này thực chất là một di hài”.
Qua những tấm phim chụp, ông Cường thấy toàn bộ phần xương trong bức tượng người thật này. Xương sườn, xương đốt sống đã đổ sập xuống, nằm gọn trong khoang bụng. Hộp sọ còn nguyên vẹn, phần xương lá mía và phần xương đỉnh trên không bị đục vỡ như trên sọ của vua Ai Cập Ramsès V để lấy não ra rồi đưa nhựa thơm vào. Phần răng của vị thiền sư còn nguyên vẹn. Tất cả phần xương tay, chân, bàn chân, xương sườn, xương bả vai đều còn nguyên và nằm đúng vị trí giải phẫu. Một tấm phim chụp chậu hông ở phía trước thấy rõ góc của xương mu là một góc nhọn. Điều này chứng tỏ đây là di hài của một người đàn ông, vì nếu là di hài của người đàn bà thì góc này phải là một góc tù.
Về cơ bản, di hài này là một thực thể tương đối hoàn hảo, nguyên vẹn. Bằng cách nào mà vị thiền sư này giữ được thân thể mình vẹn nguyên qua hàng thế kỷ như thế trong khi ngay cả đến những xác ướp Ai Cập cổ đại cũng không thể hoàn hảo được như vậy?
Bí mật về phương thức thiền táng đặc biệt
Xác ướp nổi tiếng nhất ở Trung Quốc là thi hài của một phụ nữ ở Mã Vương Đôi, sống cách ngày nay 2.000 năm. Bà được hút hết máu, thay vào bằng một chất lỏng gốc thủy ngân, quấn thêm 13 lớp vải, sau đó được bỏ vào một cái quan tài chứa đầy chất sát trùng và chiếc quan tài đó lại được đặt trong một cái quan tài khác. Tất cả được chôn thẳng đứng trong một hố sâu 15m, phía trên chèn than gỗ, tro và đất sét mịn để nước không thấm qua, nhờ vậy xác không bị thối rữa mà vẫn mềm mại. Các nhà khoa học đã tìm hiểu và cho thấy bà đã qua đời vì bệnh tim mạch.
Từ việc nghiên cứu những táng thức như địa táng, thủy táng, thiên táng, huyền táng… nhóm nghiên cứu của PGS Nguyễn Lân Cường đã đặt tên táng thức các vị thiền sư ở chùa Đậu là thiền táng (táng theo tư thế ngồi thiền) hay tượng táng (làm thành tượng để táng).
Câu hỏi đặt ra là, thiền sư Vũ Khắc Minh đã dùng thứ năng lượng nào để có thể viên tịch trong trạng thái ngồi thiền mà nhục thể của ông có thể thách thức được với thời gian?
Chúng tôi đã được nghe một câu chuyện về phương thức… tự ướp xác mình một cách kỳ công đến mức khổ hạnh. Cũng đi vào cõi vĩnh hằng theo tư thế ngồi thiền, đó chính là xác ướp ở đền Churenzy ở tỉnh Yamagata – Nhật Bản. Ngôi đền này được xây dựng từ 400 năm trước và rất nổi tiếng vì giữ được nhục thân của vị danh tăng Tetsumonkai. Tetsumonkai là một nông dân rất khỏe mạnh, đẹp trai và đã có không ít cô gái trong vùng để ý đến.  Vào một ngày nọ, khi đang làm việc trên cánh đồng, ông bị hai Samurai say rượu gây sự. Ông đã tự vệ bằng chính chiếc hái trên tay và giết chết hai Samurai kia.
Sau khi giết người, biết rằng tính mạng của mình sẽ bị đe dọa, ông vội vã trốn vào vùng núi gần đó và tới chùa Churenzy. Trước khi trốn lên đây, Tetsumonkai đã biết rằng đạo Phật tin tưởng vào vòng luân hồi và sự đầu thai. Các tín đồ Phật tử phải trải qua tu luyện mới đạt đến độ trở thành bất tử. Tuy nhiên, Tetsumonkai không hề biết rằng, những vị sư tại đền Churenzy này không giống những Phật tử bình thường. Họ thuộc một nhánh của đạo Phật có tên là Shingon. Các tín đồ Phật tử Shingon tin rằng có một con đường tắt để đạt đến độ khai sáng. Thay vì phải theo vòng luân hồi đầu thai thông thường, họ tin rằng, nếu để cơ thể mình chịu đựng những gì cùng cực nhất thì người ta có thể trở thành một đức Phật – một kiểu Thánh sống ngay trong cuộc đời hiện tại của mình.
Di hài của thiền sư Tetsumonkai tồn tại đến ngày nay và vẫn luôn được người dân Nhật Bản thờ cúng
Tetsumonkai đã thoát khỏi sự trả thù của các Samurai nhưng ông luôn dằn vặt vì đã giết người. Để thoát khỏi những dằn vặt đó, ông quyết định tìm đến sự thanh sạch trong tinh thần thông qua những trừng phạt về thể xác. Ông bắt đầu tập luyện những nghi lễ Shingon ở trong một ngọn núi gần đó. Hàng ngày, ông leo lên đỉnh núi rồi lại leo xuống nhiều lần. Đến mùa đông, ông tắm trong làn nước lạnh giá.
Theo quy định, phụ nữ không được phép vào ngôi đền này. Nhưng rồi một lần, chuyện không ngờ ấy đã xảy ra. Một cô gái điếm vốn quen biết với Tetsumonkai khi xưa đã lẻn vào đền để gặp ông. Lập tức, ông tóm cổ tay cô gái và dẫn ra phía sau đền. Cô gái chết lặng người khi thấy Tetsumonkai lôi từ trong người ra một con dao nhọn hoắt rồi trong chớp mắt cắt phăng… bộ phận sinh dục của mình và đưa cho cô gái. Ông dằn mạnh từng lời: “Hãy đi đi và đừng bao giờ quay lại ngôi đền này nữa”.
Hai mươi năm trôi qua, Tetsumonkai đã hoàn thiện cách tự chối bỏ bản thân và đạt đến độ thanh khiết về tinh thần. Đến năm 84 tuổi, ông quyết định tự ướp xác mình.
Tetsumonkai bước vào một căn hầm nhỏ, nằm sâu dưới đất, chỉ đủ chỗ cho một người ngồi thiền. Hầm kín mít, chỉ có một ống dẫn khí vào bên trong. Ông không hề ra ngoài hay ăn uống bất cứ thứ gì trong đó. Hàng ngày, ông chỉ có mỗi một động tác là rung chuông để báo cho người bên ngoài biết là ông còn sống. Mười ba ngày trôi qua, hôm nào tiếng chuông cũng vang lên, nhưng đến ngày thứ mười bốn thì chỉ còn sự im lặng.
Sau đúng một nghìn ngày, người ta mới mở hầm mộ ra và vô cùng kinh ngạc khi thấy Tetsumonkai vẫn ngồi nguyên ở tư thế thiền như khi còn sống. Đôi mắt ông đã khép lại nhưng thân thể ông không hề có dấu hiệu của sự thối rữa. Thi thể ông đã trường tồn cùng thời gian.
Không ai biết bằng cách nào mà nhà sư Tetsumonkai làm được điều kỳ diệu như vậy. Mãi về sau này, các nhà khoa học đã tìm ra rằng, Tetsumonkai đã âm thầm ướp xác mình trước khi ông chết hàng nghìn ngày. Giai đoạn đầu tiên trước đó là khoảng 3 năm, Tetsumonkai sống theo chế độ ăn kiêng rất hà khắc. Ông không ăn bốn loại ngũ cốc: gạo, lúa mì, đậu tương, vừng mà chỉ ăn các loại hạt ở trong rừng. Giai đoạn thứ hai khoảng hơn 3 năm, ông chỉ ăn một lượng nhỏ vỏ và rễ cây thông. Trong giai đoạn cuối cùng, ông uống một loại trà đặc biệt được tinh chế từ nhựa cây urushi (giống cây sơn ta ở Việt Nam). Ông còn uống một loại nước suối có hàm lượng thạch tín rất cao. Chính nước suối có chứa thạch tín và nhựa cây urushi đã giết chết những vi sinh vật làm phân hủy cơ thể. Chúng là những chất xúc tác cuối cùng, trước khi các vị thiền sư bước vào hầm mộ ngồi thiền, nó chẳng những diệt vi khuẩn gây ra việc phân hủy xác mà còn đóng vai trò bảo quản cho các mô của cơ thể.
Xác ướp của thiền sư Tetsumonkai là một minh chứng cho sự khổ luyện dài lâu và những phương pháp rất khoa học.
Quay trở lại câu chuyện của vị danh tăng Vũ Khắc Minh ở chùa Đậu, sau quá trình phát hiện, phục chế, các nhà khoa học Việt Nam đã nghiên cứu và tìm ra phương pháp ướp xác của vị thiền sư này. Và họ đã ngỡ ngàng nhận ra công phu tuyệt đỉnh nhờ sự tu luyện khổ hạnh cùng năng lượng  đặc biệt của con người mà chúng tôi sẽ nói ở kỳ sau.
Nhục thân thiền sư Vũ Khắc Minh (ảnh tư liệu chụp năm 1931 – Viện Thông tin KHXH)
Một câu hỏi mà nhiều người nêu ra: cách ướp xác như ở chùa Đậu có từ bao giờ ở nước ta? Theo Đại Việt sử ký toàn thư: “Bính Thân (Hội Trường Đại Khánh, năm thứ 7 (1116), (Tống Chính Hòa năm thứ 6). Mùa hạ, nhà sư Từ Đạo Hạnh trút xác ở chùa núi Thạch Thất (Thạch Thất là tên huyện, tức là huyện Ninh Sơn ngày nay, tên núi là Phật Tích. Phật Tích này khác với Phật Tích ở Bắc Ninh. Từ Đạo Hạnh đến chơi núi ấy, thấy tảng đá trong hang núi có vết chân người, lấy chân ướm vào vừa đúng, tục truyền đó là chỗ Đạo Hạnh trút xác)”. “…Người làng cho là việc lạ, đặt xác Đạo Hạnh vào trong khám để thờ” (Xác Đạo Hạnh đến khoảng năm Vĩnh Lạc nhà Minh, bị người Minh đốt cháy, người làng ấy lại đắp tượng để thờ như cũ, hiện nay hãy còn)”.
Theo Phật lục: “Chùa Phật Tích… khám thờ tổ đệ nhất bó cốt làm tượng….”
Như vậy, rõ ràng việc bó cốt làm tượng theo phương thức “tượng táng” (mà theo Phật giáo gọi là nhục thân) đã có từ thế kỷ XII ở nước ta.
Nhục thân của các vị thiền sư chùa Đậu đã tồn tại qua hơn 3 thế kỷ, chứng kiến biết bao nhiêu biến cố trong thiên tai, binh lửa. Đây là di sản vô cùng quý giá, là dấu ấn tâm linh và văn hóa của dân tộc Việt Nam. Có thể coi đây là một dạng xá lợi, là kết quả của quá trình dùng năng lượng đạt đến đỉnh cao của thiền định.
2. Dự án không được phép sai sót
Mắc màn sơn tượng thiền sư
Tại Viện Thông tin Khoa học Xã Hội (Hà Nội), PGS Nguyễn Lân Cường đưa cho chúng tôi hai bức ảnh chụp lại bức tượng thiền sư Vũ Khắc Minh. Bức tượng thời điểm đó còn bóng nước sơn, không hề có vết nứt nào. So sánh với tình trạng của bức tượng ở thời điểm hiện tại thì thấy rằng, chỉ sau vài chục năm, do tượng để trong am cạnh chùa rất ẩm ướt nên đã xuống cấp nặng, trong đó, vết nứt ở đầu gối là trầm trọng nhất.
Tìm hiểu sâu hơn về vết nứt đáng tiếc này, PGS Nguyễn Lân Cường đã được nghe một người dân bản địa là ông Phạm Văn Sơn, ở xã Nguyễn Trãi, Thường Tín, Hà Nội kể lại rằng: “Hồi tóc còn để chỏm, tôi đã nghe nói rằng, có hai người nước ngoài tới tham quan pho tượng. Họ xăm soi một lúc rồi dùng ba toong đập vỡ đầu gối để xem có xương bên trong pho tượng hay không. Sau đó, các cụ trong làng đã dùng sơn ta để vá lại”.
Nhục thân của thiền sư Vũ Khắc Trường
Thế nhưng, các cụ không hiểu rõ về nguyên tắc sơn tượng nên chỉ sơn một nước, khiến bên ngoài thì khô nhưng bên trong thì vẫn ướt. Vì vậy, chỉ một thời gian sau, vết nứt đã xuất hiện giữa nơi tiếp giáp của hai lớp sơn. Còn bên dưới lớp sơn tạm này, vi khuẩn đã đục khoét phần sơn ta làm thành các rãnh sâu chằng chịt. Từ vết nứt ở đầu gối, ôxy đã tràn vào phía trong tượng và chỉ sau vài chục năm đã làm nứt phần đầu và phần mặt.
Cũng trong khoảng thời gian này, PGS Nguyễn Lân Cường lại tiếp tục phát hiện ra nhục thân, đó là của thiền sư Vũ Khắc Trường. Ông Cường đã mừng đến rơi nước mắt bởi vì đây là những tài sản vô cùng quý hiếm không chỉ của Việt Nam mà còn là của cả nhân loại.
Thiền sư Vũ Khắc Trường là người thừa kế của thiền sư Vũ Khắc Minh. Thiền sư Vũ Khắc Trường tự là Đạo Tâm, là học trò, đồng thời ở ngoài đời là cháu gọi thiền sư Vũ Khắc Minh bằng chú. Thiền sư Vũ Khắc Trường có vị trí cao trong giới Phật giáo lúc bấy giờ.
Nhìn bề ngoài, tượng thiền sư Vũ Khắc Trường được sơn màu trắng toát và được vẽ môi, vẽ mắt cẩn thận nên nhìn kém tự nhiên hơn. Chính vì thế, trải qua nhiều thế kỷ, những Phật tử từ khắp nơi đến viếng chùa đều nghĩ rằng, đó chỉ là pho tượng gỗ cổ mà thôi.
Câu chuyện liên quan đến thiền sư Vũ Khắc Trường cũng hết sức ly kỳ. Khi di chuyển pho tượng từ trong am ra, người ta đã sơ ý làm vỡ một mảng to gần bằng bàn tay ở phía sau lưng. Mọi người kinh ngạc khi thấy di hài của thiền sư Vũ Khắc Trường có đến hai cột sống! Nhìn kỹ lại thì hóa ra đó là một ống trúc già dựa song song vào xương sống thật.
Không ai hiểu vì sao và ai là người đưa ống trúc vào trong thân thể vị thiền sư này. Một điểm lạ nữa là khi chụp X-quang bức tượng thì không thể chụp được, phim ra chỉ là một màu trắng toát. Những người chụp phim đã lạnh xương sống khi nhìn những tấm phim này.
Qua nhiều ngày tìm hiểu, lật giở lại lịch sử thì bí mật ấy đã được giải đáp. Pho tượng thiền sư Vũ Khắc Trường thực ra đã không còn nguyên vẹn mà đã trải qua một lần tu bổ, nhưng cũng đã hàng trăm năm rồi. Nhiều người kể rằng, năm 1914 đã xảy ra một trận lụt lớn làm ngập chùa. Pho tượng này để dưới nên bị ngâm nước lâu và bị mủn ra, phần thân dưới bị sụt xuống, cột sống bị đứt rời. Tuy nhiên, về sau này, một nhóm nhà khoa học Việt Nam sang Pháp vô tình đọc được một tài liệu liên quan đến sự việc này. Năm xảy ra trận lụt thực ra là năm 1893. Phương pháp phục chế bấy giờ chỉ đơn giản là xếp liền một ống trúc già song song với cột sống để làm giá đỡ. Sau đó, người ta đã tráng một lớp vôi bên ngoài tượng. Và chính lớp vôi đó đã gây ra hiện tượng phản quang nên xương cốt của pho tượng này không thể hiện lên khi đem chụp X-quang. Thế là bí mật về pho tượng đã bước đầu được minh giải.
Khi PGS Nguyễn Lân Cường tìm thấy thì pho tượng đã ở trong tình trạng bị hư hỏng nặng, lớp sơn ta ngoài bề mặt đã bị mủn nát, lộ ra phần bên trong. Bức tượng có một lỗ thủng lớn ở ngực, đầu gối và tay bị trật xương, chỉ cần một cú hích tay nhẹ là minh chứng lịch sử này sẽ đổ sụp.
Những đêm mất ngủ
Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu, PGS Nguyễn Lân Cường đã bắt tay vào viết Dự án “Tu bổ, bảo quản tượng hai vị thiền sư Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường ở chùa Đậu”. Nhưng rồi, cuộc tranh luận về những phương án tu bổ đã kéo dài liền mấy năm. Ông Cường muốn đưa tượng về Hà Nội để phục chế vì đó là nơi có điều kiện làm việc tốt nhất. Thế nhưng, vị sư trụ trì chùa Đậu lại muốn làm ngay tại chùa. Mãi đến đầu năm 2003, dự án mới được phê duyệt và nhà chùa phải nhường ba gian phòng khách phía sau để nhóm chuyên gia, ngoài ông Cường còn có họa sĩ sơn mài Đào Ngọc Hân, hai nhà điêu khắc Phạm Xuân Sinh, Nguyễn Ngọc Lâm và kỹ sư Nguyễn Mạnh Hà làm việc.
Ông Cường nhớ lại: “Thời điểm ấy, áp lực của chúng tôi là rất lớn, không thể để mắc sai lầm vì hai pho tượng này là độc bản, chỉ cần mắc một lỗi nhỏ là không thể sửa chữa được”.
Pho tượng lạ Quan âm sáu tay ở chùa Đậu
Muốn gắn lại những vết nứt trên mặt, đầu gối trước hết phải diệt vi sinh vật và vi khuẩn bám trong các rãnh sâu và cả ở bên trong pho tượng thiền sư Vũ Khắc Minh. Ông Cường đã mời các nhà khoa học của Viện 69, Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh về tận chùa để cùng phối hợp nghiên cứu, tìm phương án diệt trừ các vi sinh vật, đưa thuốc diệt khuẩn vào trong pho tượng bằng phương pháp aeroson và tiến hành xông thuốc trong 72 giờ để thuốc ngấm hẳn vào trong pho tượng.
Một trong những vấn đề đặt ra là, nếu chỉ gắn các vết nứt bằng sơn ta thì sau khoảng 50 năm sẽ lại xuất hiện các vết nứt sinh ra giữ lớp sơn cũ 300 năm và lớp sơn mới. Họa sĩ Đào Ngọc Hân đã đưa ra một ý tưởng rất thuyết phục: mạnh dạn mở rộng thêm vết nứt mỗi bên khoảng 10mm và sâu 1mm rồi mới gia cố bằng vải màn trộn sơn sống. Biện pháp này sẽ đưa độ bền vững của pho tượng từ 50 năm lên hàng trăm năm.
Sau khi đã hàn kín các vết nứt, nhóm tu bổ quyết định đổ khuôn thạch cao pho tượng, tạo ra một pho tượng giống hệt đặt vào trong am. Pho tượng này phải giống hệt pho tượng cũ trước khi tu bổ, nghĩa là cũng có đầy đủ các vết nứt vỡ để những người tham quan biết được hình hài pho tượng gốc. Thế nhưng, nếu đổ khuôn thạch cao, nhiệt có thể “bóp vỡ” thi thể của thiền sư. Nhà điêu khắc Phạm Xuân Sinh đề xuất đổ khuôn từng phần: đầu, thân, cánh tay, cẳng tay, bàn tay… sau đó nối các phần lại với nhau, nhờ đó đã tạo được một bức tượng khác giống hệt bức tượng gốc mà lại đảm bảo tuyệt đối an toàn.
Bằng kỹ thuật truyền thống như bó, hom, lót, thí, mài và thếp với các nguyên liệu như sơn ta, vải màn, giấy dó, mạt cưa và đất, cả nhóm đã tiến hành sơn 14 lớp và thếp vàng đối với tượng gốc thiền sư Vũ Khắc Minh. Sau mỗi lớp sơn lại tiến hành mài khiến các lớp sơn đan xen, xoắn quyện với nhau. Đến lớp cuối khi phủ quang dầu xong, cả nhóm phát hiện bề mặt pho tượng không nhẵn. Những hạt bụi lơ lửng trong không trung đã bám vào bề mặt tượng. Thế là cả nhóm phải tiến hành khâu này trong… màn.
Khám rồng mạ vàng để đặt tượng thiền sư Vũ Khắc Trường
Pho tượng của thiền sư Vũ Khắc Trường vốn được dựng lại năm 1893 nên có nhiều chi tiết sai lệch về mặt giải phẫu. Ban đầu, ông Cường có ý dỡ ra, thu thập xương cốt rồi dựa theo xương sọ để phục nguyên lại đúng với vẻ mặt ban đầu của thiền sư. Thế nhưng, nhà chùa và Sở Văn hóa Thông tin không tán thành vì cho rằng, nhân dân địa phương hơn trăm năm nay đã in đậm trong tâm khảm hình ảnh của cụ Nguyễn Khắc Trường hiện tại rồi. Dù phục dựng pho tượng mới có giống với hình hài thật của cụ, họ cũng sẽ không chấp nhận. Ông Cường đành phải làm theo ý mọi người.
Vào một buổi chiều hè, ông Cường ngồi ngắm pho tượng thiền sư Vũ Khắc Trường và cứ suy nghĩ mãi, không hiểu tại sao vị thiền sư này có cánh tay dài thế? Không cưỡng nổi sự tò mò, ông Cường bí mật khoét bốn ô nhỏ ở vùng gần đầu xương cánh tay và khửu tay. Và sự liều lĩnh này của ông đã có kết quả. Trong hố khoét của cánh tay phải ở phía trên gần vai, ông phát hiện ra xương này đã bị đặt lộn ngược, bên cạnh đó là xương mác của xương ống chân được ghép vào xương cánh tay cũng bị lộn đầu. Đây chính là nguyên nhân làm cánh tay của thiền sư dài quá cỡ. Có lẽ, trong lần tu bổ khi xưa, các con cháu của thiền sư thấy phần cẳng tay có hai xương nên cũng nghĩ rằng cánh tay cũng phải có hai xương.
Một nhiệm vụ quan trọng trong dự án này là vấn đề bảo quản hai pho tượng sau khi đã tu bổ. Một vật thể trong môi trường không khí dù là vô cơ hay hữu cơ thì đều sẽ bị hủy hoại do tác động của ôxy. Sự hủy hoại vật thể để trong môi trường không khí nhanh hay chậm, nhiều hay ít cũng phụ thuộc vào nhiệt độ và độ ẩm của môi trường. Theo quy luật, khi nhiệt độ tăng lên 100C thì tốc độ hủy hoại tăng hai lần và độ ẩm ướt của môi trường tăng lên 10% thì tốc độ hủy hoại cũng tăng gấp đôi. Vì vậy, nguyên lý trong bảo quản là làm thế nào để hạn chế đến mức tối đa tác động của ôxy đến vật thể bảo quản.
Lúc đầu, nhóm phục chế định dùng máy hút ẩm munter, hoạt động theo phương pháp thổi khí để bảo quản hai pho tượng cổ. Tuy nhiên, thiết bị này tương đối đắt tiền và vấn đề cốt lõi là máy này chạy phát tiếng động lớn, không hợp với không gian yên tĩnh trong chùa. Trong cuộc họp tại Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, các nhà khoa học của Trung tâm Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia, Viện 69 Bộ Tư lệnh Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thống nhất thay thiết bị munter bằng việc sử dụng môi trường khí trơ có khí nitơ. Phương pháp này vừa tiết kiệm được kinh phí, vừa phù hợp với điều kiện kinh tế của địa phương.
Hợp tác xã công nghiệp Từ Vân, Đông Anh đã đảm nhận việc làm hai khám bằng gỗ mít. Các phần của khám được liên kết với nhau bằng mộng và đinh tre. Nhà máy kính Đáp Cầu đúc kính dày 1cm và lắp ráp thành một hộp kính kín. Đúng 9 giờ 45 ngày 3/11/2003, công đoạn cuối cùng của Dự án tu bổ, bảo quản di hài của hai vị thiền sư chùa Đậu là việc bơm khí ni tơ vào hai hộp kính đặt trong khám đã hoàn tất, chấm dứt gần 200 ngày miệt mài lao động của những người thực hiện dự án. Sáng 29/11/2003, tại Lễ khánh thành, một cụ già tóc bạc phơ tìm đến xiết chặt tay ông Cường, mắt rớm lệ: “Cảm ơn các chú, vì cái tâm sáng nên các chú mới làm được chuyện này. Bây giờ thì tôi đã yên tâm nhắm mắt xuôi tay, vì cụ Minh, cụ Trường sẽ được sống với hậu thế vài trăm năm nữa…”.
Tuy nhiên, trong đầu PGS Nguyễn Lân Cường vẫn ong ong câu hỏi: Bằng cách thức nào, năng lượng nào mà những vị thiền sư có thể ướp xác mình đến độ tinh xảo và hoàn hảo đến như vậy? Bởi vì, người Ai Cập cổ đại đã phải mò mẫm rất lâu trước khi tìm thấy một công thức ướp xác tốt nhất. Sáu nghìn năm trước Công nguyên, trước khi chôn người chết, người Ai Cập đã khoét những lỗ nhỏ trên xa mạc rồi đem dựng xác người vào đó để cát nóng sấy khô. Mãi đến khoảng năm 2650 trước Công nguyên, kỹ thuật moi ruột ướp xác mới được thực hiện ở đây. Đầu tiên, họ rạch bụng người chết qua một vết cắt khoảng 8cm để lấy nội tạng ra, duy chỉ có quả tim là được giữ lại. Ruột, dạ dày và gan thì được bỏ vào các bình chứa. Người ta đục xương lá mía đưa rượu chà là vào trong não rồi dùng một thanh sắt nhỏ có móc ngoáy mạnh trong đầu. Sau khi lật úp xuống, não sẽ chảy ra ngoài cùng rượu và vùng sọ rỗng được thay bằng nhựa cây. Thân người chết được lau khô rồi nhét đầy hương liệu với mạt cưa. Cuối cùng, người ta quấn xác chết bằng vải lanh, để vào quan tài rồi mới đem vào hầm mộ.
Nhục thân các vị thiền sư chùa Đậu vẫn còn nguyên vẹn, thậm chí nội tạng vẫn còn nguyên trong cơ thể. Vậy tại sao những nhục thân này không bị vi sinh vật ăn mòn và hủy hoại? Đã có nhiều bậc cao tăng cho rằng, những thiền sư này đã luyện đến mức tối thượng, dùng “lửa tam muội” để biến mình thành bất tử.
PGS Nguyễn Lân Cường cho rằng, ông là “hướng dẫn viên du lịch nghiệp dư cho hàng trăm đoàn khách trong và ngoài nước đến tham quan chùa Đậu, huyện Thường Tín (Hà Nội). Ông không bao giờ quên câu nói của GS.TS István Kiszely, nhà nhân học nổi tiếng người Hunggari: “Bạn đã cho tôi được biết đến một điều kỳ diệu về nền văn hóa thật đa dạng của Việt Nam. Tôi hy vọng sẽ còn tìm được những thiền sư khác nữa”. Điều mong muốn của vị giáo sư nước ngoài ấy đã trở thành sự thật, khi Việt Nam tiếp tục tu bổ và nghiên cứu tiếp hai nhục thân khác ở Phật Tích và Tiêu Sơn. Ông Cường tin tưởng chắc chắn rằng, sẽ còn nhục thân của nhiều thiền sư khác còn chưa xuất lộ, vì ngôi chùa nào ở Việt Nam mà chẳng có tháp của các vị trụ trì?
Nhục thân của thiền sư Như Trí ở chùa Tiêu (Bắc Ninh) mang đậm màu sắc tâm linh, nhưng với nhãn quan khoa học, người đời nay đặt câu hỏi rằng, bằng phương pháp gì và con đường nào mà thi thể của ông không bị thời gian hủy hoại?
3. Lửa tam muội bí truyền
Bí ẩn trong am cổ
Cách Hà Nội hơn 20km, trên đường đi Bắc Ninh, có tấm biển lớn chỉ đường về chùa Tiêu, thuộc xã Tương Giang, huyện Từ Sơn. Ngôi chùa này vốn có tên Thiên Tâm, dựng từ thời Tiền Lê, là nơi thiền sư Vạn Hạnh tu hành, giảng đạo và dạy dỗ Lý Công Uẩn, người khai sinh Thăng Long – Hà Nội.
Ai đã đến chùa Tiêu đều không quên ni sư Đàm Chính, người có vẻ mặt đôn hậu và đôi mắt hiền hòa. Hơn 60 năm về trước, khi là một thiếu nữ 17 tuổi đã về tu nghiệp ở chùa. Năm 1971, cái năm mưa liên miên, cây cối mọc nhiều trong vườn tháp, khiến nhà chùa phải bắc thang lên cắt rễ cây ăn sâu vào tháp. Vén một nhành cây phủ tháp Viên Tuệ, ni sư thấy một viên gạch màu đỏ, trên có ghi tên và năm tịch của người trong tháp. Qua khe nứt, ni sư kinh hãi nhận thấy một người ngồi thiền trong tháp, nhưng ni sư bịt chặt kẽ hở và giữ kín chuyện, mãi tới năm 1996 mới thưa lại với Hòa thượng Thích Thanh Từ – Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm, Đà Lạt, khi tới thăm chùa Tiêu Sơn. Ni sư ngỏ lời nhờ Hòa thượng giúp đỡ và người của Thiền viện Trúc Lâm ngỏ lời với PGS Nguyễn Lân Cường.
Nhục thân được phục dựng lại của thiền sư Chuyết Chuyết (chùa Phật Tích) là một minh chứng khác cho thấy phương pháp tượng táng đặc biệt của người Việt: sau khi thiền sư tịch, các tín đồ đã lấy dây đồng để dựng khung xương theo thế ngồi thiền rồi tạo tượng phủ bên ngoài xương bằng chất bồi mà chủ yếu là mạt cưa, vải, sơn ta… Pho tượng trước khi phục chế đã bị vỡ thành 342 mảnh, gồm 133 mảnh xương và 209 mảnh bồi, được phục dựng lại hình hài bằng phương pháp Geraximov.

Lần theo văn tự trên viên gạch đính trên tháp, được biết rằng, người ngồi trong tháp có đạo hiệu là Ma ha đại Tỳ kheo Như Trí; tháp được kính cẩn hoàn thành vào ngày lành mùa Xuân niên hiệu Bảo Thái thứ 4 (1723) triều Lê Dục Tông. Thân thế sự nghiệp của Thiền sư Như Trí đến nay chưa tìm thấy sử sách, chỉ xuất hiện trong một vài tác phẩm văn Nôm chưa có dịp kiểm chứng. Những tư liệu đó cho biết, ngài có cùng một số huynh đệ có cùng chữ Như, phụ giúp Thiền sư Chân Nguyên sao lục ấn hành những tác phẩm của thời Trần còn sót lại trong nhân gian như Khóa Hư Lục, Tam Tổ Trúc Lâm, Kiến Tánh Thành Phật và đặc biệt là năm 1715 in lại bộ Thiền Uyển Tập Anh Ngữ Lục – một bộ sách rất có giá trị về văn hóa Phật giáo Việt Nam.
Theo Thượng tọa Thích Thông Phương – Trụ trì Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử thì “Thiền sư Như Trí là đệ tử nối pháp của Thiền sư Chân Nguyên, một thiền sư thời Hậu Lê có công phục hưng Thiền phái Trúc Lâm, do sư tổ Trúc Lâm – vua Trần Nhân Tông mở ra và từng trụ trì chùa Long Động ở Yên Tử, nay là Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Hiện nay ở đây còn tháp đá tôn thờ Thiền sư, gọi là tháp Tịch Quang”. Thượng tọa Thích Thông Phương cũng nhận xét rằng, Thiền sư Như Trí đã an nhiên trước sinh tử, thị tịch trong tư thế khiết già và để lại nhục thân cho đến ngày nay, càng làm sáng tỏ dòng Thiền Trúc Lâm trên đất Việt và cho thấy chư Tổ người Việt tu hành rất có kết quả cao sâu, đúng với chân lý bình đẳng mà Phật đã dạy.
Ngày 5/3/2003, nhục thân Thiền sư Như Trí được đưa ra khỏi tháp, trong tư thế bán già, tay kết ấn tam muội, nhưng vì ẩm mốc nên bị mục rớt phần cẳng tay, nhiều phần hư hỏng nặng, có nhiều vỏ trứng của các loài côn trùng hoặc bò sát nằm rải rác quanh bệ sen làm bằng gốm non màu đỏ.
Điều khác biệt là trong lớp bồi không có thếp vàng, thếp bạc, nhưng trong lớp bồi lại có những miếng đồng mỏng, có tác dụng đỡ cho nhục thân Ngài qua nhiều năm không bị gục xuống. Khi PGS Cường tu bổ pho tượng táng này là ông đã phát hiện ra một khối hợp chất bằng quả bưởi nằm trong bụng thiền sư. Ông khẳng định: “Tượng được phủ kín bằng lớp bồi, phía dưới lại có đáy gốm hình tòa sen, do đó, khối vật chất này không thể lọt vào ổ bụng được”.
Ông Cường và các nhà khoa học lấy mẫu chuyển đến Viện Khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia để phân tích bằng phương pháp phổ nhiễu xạ tia X, kết quả cho thấy, hợp chất lấy từ bụng thiền sư Như Trí chính là các chất còn lại của phần phủ tạng. Như vậy, đây là lần đầu tiên ở Việt Nam chúng ta phát hiện và chứng minh được có phần nội tạng trong bụng Thiền sư, tức là thi thể Thiền sư được ướp theo một cách thức riêng, không hề giống với cách ướp xác của người Ai Cập.
Việc tu bổ pho tượng nhục thân thiền sư Như Trí đã hoàn thành, Ngài đã trở lại dáng vẻ gần như ban đầu và tiếp tục ngồi “kiết già” trong nhà thờ Tổ với sự bảo quản cẩn thận của khoa học hiện đại.
Tuy nhiên, câu hỏi lớn đặt ra với các nhà khoa học là, sự xâm hại nghiêm trọng của thời tiết, vi khuẩn, côn trùng hàng mấy trăm năm, vì sao ngài vẫn còn nguyên vẹn, thậm chí cả khối vật chất của phủ tạng cũng vẫn còn nguyên vẹn?
Yếu quyết tự ướp xác
Theo nhà Phật, người chết mà để lại những phần không bị thiêu hủy sau khi hỏa táng thì gọi là xá lợi. Xá lợi ấy nhiều khi cũng rất đặc biệt, ví như cái lưỡi của ngày Duy Ca Mật, một vị thuyết pháp người Ấn Độ, hay như quả tim của vị danh tăng Thích Quảng Đức để lại do tự thiêu để phản đối chế độ Mỹ – ngụy ở miền Nam Việt Nam. Theo truyền thuyết kể lại thì, đức Phật sau khi viên tịch cũng để lại xá lợi là những viên ngọc ngũ sắc mà ngay cả nhiệt độ rất cao cũng không thiêu hủy được.
Đưa nhục thân thiền sư Như Trí vào khám rồng
Nếu là những bậc chân tu, sau khi luyện được tâm thanh tịnh thì họ đạt được ngũ thông hoặc lục thông. Tai họ có thể nghe được âm thanh cực nhỏ hoặc từ rất xa; mắt nhìn được xa những vật rất nhỏ, tâm có thể đọc được ý nghĩ của người khác. Tuy nhiên, các gốc của Phật giáo không phải là để đạt được ngũ thông, lục thông mà là để chuyển hóa cái tham, sân, si trong con người mình đến chỗ an nhiên, thanh tịnh. Để dù mắt thấy sắc, mũi thấy mùi, tai nghe rõ… nhưng trong tâm không nảy sinh bất kỳ một ý niệm nào ưa thích hay ghét bỏ, phiền não. Nếu tu được đến mức độ như vậy thì quá khứ hay hiện tại sẽ không còn ngăn cách nữa. Tất cả những yếu quyết để tự ướp xác này là một phương pháp bí truyền có tên là “lửa tam muội”.
Tương truyền, lửa tam muội nghĩa là một ngọn lửa huyền bí, là thứ năng lượng đặc biệt của con người. Người ta dùng hô hấp để kích động các bí huyệt trong cơ thể, để lúc nào cũng cảm thấy ấm áp như được khoác một bộ áo dày, mà người Tây Tạng gọi là “mặc áo tiên”. Khi đã nhập định, người ngồi thiền cảm thấy thân tâm thoải mái, an lạc, dễ chịu mà người ta hay gọi là “sống trong tiên cảnh”.
Cũng như khinh công, luyện lửa tam muội là một phương pháp bí truyền, phải có thầy chỉ dẫn, chứ không thể học theo sách được. Thầy phải là người đã luyện thành công lửa tam muội mới có thể chỉ dạy được, để biết rõ các nguy hiểm trên đường tập luyện, vì một sai lầm có thể đưa đến điên loạn hay tử vong. Hành giả phải có một thân thể cường tráng, mới có thể khắc phục được những khó khăn bước đầu.
Cũng như mọi phương pháp bí truyền, người ta thường thêu dệt nhiều điều huyền hoặc, khó kiểm chứng. Tuy nhiên, đằng sau những điều khó tin này, vẫn ẩn tàng một cái gì đó cần gạn lọc để tìm ra tinh hoa ở bên trong.
Thông thường, môn sinh ngồi cho thật vững vàng, thoải mái. Cách ngồi phổ biến là kiết già hoặc bán già. Sau khi tập ngồi thuần thục, chân tay hết nhức mỏi thì bắt đầu tập thở cho thật đều, thật sâu trước khi hít thở theo nghi thức. Như vậy, môn sinh ngồi thế kiết già bắt chéo hai chân, bàn tay đặt lên đầu gối, ngón cái, ngón trỏ và ngón út thẳng ra, ngón giữa và ngón áp út thu vào lòng bàn tay. Thoạt đầu, họ thở cho thông hai lỗ mũi, sau đó tập trung tư tưởng vào hơi thở. Khi thở ra, họ tưởng tượng mình đang xả bỏ các tính xấu như tham lam, ích kỷ, ngạo mạn, hận thù. Khi hít vào, họ tưởng tượng mình đang thu vào những tính tốt như từ, bi, hỷ, xả, thanh tịnh. Tiếp theo, họ hít vào, dồn khí xuống bụng, nín thở trong một thời gian ngắn, trước khi từ từ thở ra. Cứ tập như thế, đến khi cơ thể hoàn toàn thả lỏng, tâm trí dứt hết các nỗi lo lắng, ưu phiền, hoàn toàn thoải mái tự tại.
Viên gạch đính trên tháp chứa nhục thân Ngài ghi rõ: Nhục thân ở trong tháp có tên là Ma ha Đại Tỳ kheo Như Trí (theo bản dịch của PGS.TS Đỗ Thị Hảo)
Nếu đạt yêu cầu, môn sinh được chấp nhận cho làm lễ điểm đạo truyền pháp. Họ sẽ bỏ bộ áo dày, chỉ khoác một tấm vải mỏng. Và từ đó, họ không ngồi gần lửa, tìm đến nơi hoang vu, thanh vắng, có độ cao trên bốn ngàn thước để hít thở không khí trong lành. Bí kíp ghi rõ: “Không được tập luyện trong nhà cửa, xóm làng, vì không khí ở đó bị ô nhiễm củi lửa, có những rung động không tốt, ngoại cảnh làm xáo trộn tâm trí của hành giả”. Hành giả sẽ sống cô đơn ở nơi hoang vu, bỏ hết phiền não cõi trần.
Sau khi hợp nhất khí huyết, môn sinh tưởng tượng có một quả cầu lửa to bằng nắm tay sẽ sáng rực ở rốn, mỗi hơi thở sẽ như ống bễ quạt cho ngọn lửa này cháy to hơn, mỗi lần dồn khí xuống sẽ kích thích quả cầu này tỏa nhiệt mạnh mẽ.
Hít hơi vào, giữ hơi lại và thở hơi ra đều nương theo một câu chú để giữ ngọn lửa đó không tắt. Nhờ trước đây đã luyện thành thục cách quán tưởng xả bỏ tham sân si khi thở ra, và thu từ bi hỉ xả khi hít vào nên tâm được thanh tịnh. Nếu đốt cháy giai đoạn, cẩu thả luyện khí mà chưa điều ngự được tâm, thì vọng niệm nảy sinh, luồng hơi nóng sẽ chạy loạn xạ vào các kinh mạch, khiến môn sinh có thể điên loạn và tử vong.
Nếu tâm không còn vọng động, môn sinh có thể dùng tư tưởng hướng dẫn luồng hơi nóng đi thẳng vào các thần mạch.
Đỉnh cao của phương pháp luyện lửa tam muội là tự thiêu đốt đi lớp mỡ trong cơ thể mình và chỉ để lại những phần bất hoại với thời gian. Khi những thiền sư đốt đến giọt năng lượng cuối cùng thì cũng là lúc họ vĩnh biệt cõi trần. Chính vì thế, nhục thân của họ không bị phân hủy và trở nên bất tử.
Người đời vẫn thường kể lại câu chuyện, trước khi qua đời, thiền sư Vũ Khắc Minh đã chuẩn bị sẵn cho mình một am nhỏ trên vách núi. Khi bước vào trong am, thiền sư dặn dò các đệ tử của mình rằng: “Mang cho ta một chum nước uống và một chum dầu để thắp. Khi nào thấy dứt tiếng mõ hãy mở cửa am ra. Nếu thấy thi thể của ta đã hỏng thì dùng đất lấp am đi, còn ngược lại thì dùng sơn ta mà bả lên thi thể”.
Nhiều chuyên gia cho rằng, thiền sư Vũ Khắc Minh đã luyện được lửa tam muội tới mức tối thượng và dùng nó để bước vào cõi hư vô, bất tử. Như lời hòa thượng Thích Thanh Tứ nói lúc sinh thời thì, đây là kết quả của một quá trình rất dài chứng nghiệm trong tu tập, loại bỏ tất cả những tạp niệm của tâm để đạt đến sự giác ngộ viên mãn.
Năng lượng con người là một thế giới còn ẩn chứa vô vàn những bí mật chưa được khám phá. Nhục thân của các vị thiền sư Việt có lẽ đã gợi mở rằng, con người sở hữu một nguồn năng lượng vô hạn và khát vọng bất tử đã tồn tại trong nhiều thế kỷ qua.

Vũ Minh Tiến
Theo: PetroTimes