Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2015

Phương thức chuyển giao quyền lực: Vụ ám sát Đinh Bộ Lĩnh
Trần Trọng Dương

Tượng Đinh Tiên Hoàng (924 – 979)
ở Hoa Lư (nguồn:vi.wikipedia.org)

Vụ ám sát cha con Đinh Bộ Lĩnh của Đỗ Thích trước nay đã có một số cách giải thích khác nhau, nhưng dường như chỉ có một cách được chấp nhận rộng rãi, theo đó việc Đỗ Thích hành thích họ Đinh là một hành động “đê tiện” và việc Thái hậu họ Dương khóac long bào cho Lê Hoàn được coi là hành động “cao quý”1

Bà được coi như là một biểu tượng của lòng yêu nước: “Lúc bấy giờ, tình hình đất nước vô cùng nguy ngập. Bên ngoài thì phong kiến phương Bắc sửa soạn đại binh sang xâm lược, bên trong các triều thần phân liệt, tranh chấp quyền lực gay gắt, nguy cơ nổ ra nội chiến lớn cận kề. Với tầm nhìn xa trông rộng, Thái hậu Dương Vân Nga thấy rõ chỉ có Thập đạo tướng quân Lê Hoàn là người có khả năng đứng ra lãnh đạo đất nước, có thể ổn định và giữ vững nền độc lập thống nhất non trẻ của Đại Cồ Việt. Bởi vậy, bà quyết định cùng triều thần tôn Lê Hoàn lên làm vua.”2 Bài viết này sẽ thuật lại các giả thuyết từng được đề cập, cũng như đưa ra kiến giải riêng về sự kiện này.Từ sử liệu trong Toàn thư…

Đại Việt sử ký toàn thư (Toàn thư) ghi chép sự việc này như sau: Mùa đông, tháng mười, Chi hậu nội nhân Đỗ Thích giết vua ở sân cung. Bọn Đinh quốc công Nguyễn Bặc bắt được đem giết. Trước đó Đỗ Thích làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, Thích cho là điềm tốt, bèn nảy ra ý định giết vua. Đến đây, nhân lúc vua ăn yến ban đêm, say rượu nằm trong sân, Thích bèn giết chết, lại giết luôn cả Nam Việt Vương Liễn. Khi ấy lệnh lùng bắt hung thủ rất gấp, Thích phải lén núp ở máng nước trong cung qua ba ngày, khát lắm, gặp lúc trời mưa thò tay hứng nước uống, cung nữ trông thấy liền đi báo. Đinh quốc công Nguyễn Bặc sai người bắt đem chém, đập nát xương, băm thịt ra từng mảnh, chia cho người trong nước ăn, chẳng ai không tranh lấy mà nhai nuốt. Ngày trước, khi vua còn hàn vi, thường đánh cá ở sông Giao Thủy, kéo lưới được viên ngọc khuê to nhưng va vào mũi thuyền, sứt mất một góc. Đêm ấy vào ngủ nhờ ở chùa Giao Thủy, giấu ngọc ở dưới đáy giỏ cá, đợi sáng ra chợ bán cá. Bấy giờ vua đang ngủ say, trong giỏ có ánh sáng lạ, nhà sư chùa ấy gọi dậy hỏi duyên cớ, vua nói thực và lấy ngọc khuê cho xem. Sư than rằng: “Anh ngày sau phú quý không thể nói hết, chỉ tiếc phúc không được dài”3

Trong đoạn trên, hung thủ, động cơ, thời điểm, thời gian, không gian… của vụ ám sát được ghi chép khá cặn kẽ. Từ những ghi chép trên, một số người mặc nhiên công nhận người hành thích cha con họ Đinh là Đỗ Thích.

Tạ Chí Đại Trường trong cuốn Bài sử khác cho Việt Nam đã đồng thuận với Toàn thư mà cho rằng đây là một “cuộc bạo hành đơn lẻ” với những động cơ mơ hồ mang đầy tính huyền hoặc của nó, để đến khi Nguyễn Bặc giết được Đỗ Thích thì “người dân đương thời lại quan tâm đến ngôi sao trong mình Đỗ Thích, nên giành lấy những mảnh thịt băm ấy mà ăn, để mong hưởng chút ân sủng của Thiêng liêng”4

Pôliacốp thì miêu tả khách quan hơn, rằng Đỗ Thích giết họ Đinh vì muốn âm mưu cướp ngôi5. Nhưng ông không giải thích được sự manh động đơn lẻ cũng như cái chết của nhân vật này.

Tuy nhiên, việc giám định cho đoạn sử liệu trích dẫn ở trên hầu như lại chưa được thực hiện. Chúng ta có thể thấy hàng loạt những thông tin “phi sử liệu” đã được cài cắm. Như chúng tôi đã từng chứng minh, Toàn thư được biên soạn trên tư duy đa nguyên văn - sử - triết bất phân của thời Trung đại. Việc các tác giả Toàn thư đã sưu tập huyền thoại, chuyện kể, tác phẩm truyền kỳ, tin đồn dân gian vào công trình của mình, khiến cho tác phẩm này trở thành cái bẫy lớn cho bất kỳ ai quan tâm đến lịch sử. Để giải thích cho cuộc hành thích đơn lẻ của Đỗ Thích, người ta sáng tác ra câu chuyện “nuốt sao” với “giấc mộng đế vương”. Để giải thích cho sự tồn tại ngắn ngủi của nhà Đinh, người ta cũng sáng tác ra “chuyện ngọc khuê bị sứt” (như Toàn thư) hay chuyện “đeo kiếm cổ ngựa của ông thầy địa lý Tàu“ (như Lĩnh Nam chích quái). Để giải thích cho việc họ Lê sẽ lên thay họ Đinh, Toàn thư cũng chép lại một bài sấm ngữ được cho là sáng tác trước đó năm năm (974): “Đỗ Thích giết hai Đinh, nhà Lê nổi thánh minh, đánh nhau nhiều người chết, đường sá người vắng tanh.”6 Tuy nhiên, với chúng tôi, thì việc sáng tác sấm ngữ thời xưa chỉ là hành động chính trị của những thế lực nhằm “chính thức hóa” sự lên ngôi của mình bằng một định đề huyền bí: số trời (chữ của Toàn thư). Giả sử, nếu như bài sấm đó bắt đầu xuất hiện vào năm 974 đi nữa, thì đối tượng để Đinh Bộ Lĩnh “xử tử” đầu tiên chính là Đỗ Thích và những người mang họ Lê, mà có thế lực nhất thời bấy giờ chính là… Lê Hoàn - Thập đạo tướng quân. Vì thế có thể khẳng định, bài sấm này được sáng tác để tung vào dân gian ngay sau cuộc hành thích, hoặc như lời giải thích của chính Tạ Chí Đại Trường thì bài sấm có thể là do các “sử gia tăng lục”7 của nhà Lê sáng tác sau này. Đọc đến đây, quý vị hẳn đã mường tượng ra một âm mưu chính trị mà không ít người đã từng nghĩ tới.

…đến giả thuyết “Lê Hoàn mưu sát Đinh Bộ Lĩnh“

 Sử liệu đầu tiên đề cập giả thuyết “Lê Hoàn mưu sát Đinh Bộ Lĩnh” là ghi chép của Thẩm Quát trongMộng khê bút đàm được viết vào năm 1093 - sớm hơn Toàn thư 400 đến 600 năm. Bộ sử này ghi như sau: “thổ nhân Lê Uy giết Liễn tự lập” (土人黎威殺璉自立)8. Lê Uy tức Lê Hoàn9

Như ta biết, sau khi xảy ra vụ ám sát, Đinh Toàn lên ngôi, Lê Hoàn tự xưng làm phó vương. Các quan đầu triều nhà Đinh là Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Phạm Hạp ngờ Lê Hoàn “làm điều bất lợi cho vua nhỏ”, cùng nhau dấy binh về Hoa Lư, nhưng đều bị Lê Hoàn giết. Lê Hoàn mắng Nguyễn Bặc trước khi chém đầu Bặc, rằng: “Tiên đế mắc nạn, thần người đều căm thẹn. Ngươi là tôi con lại nhân lúc tang tóc bối rối mà dấy quân bội nghĩa. Chức phận tôi con có đâu như thế?” (Toàn thư, tr.216). Sử gia Ngô Sĩ Liên đã có lời bình luận sắc sảo rằng: “Bọn họ khởi binh không phải làm loạn, mà là một lòng phù tá nhà Đinh, vì giết Hoàn không được mà phải chết, ấy là chết đúng chỗ. Nay xem lời Đại Hành kể tội Nguyễn Bặc tựa như vạch tội mình (TTD nhấn mạnh). Khi Bặc chết, ắt phải có nói một lời để bày tỏ chính nghĩa, nhưng không thấy sử chép, thế là bỏ sót.” (Toàn thư, tr.216)

Năm 1996, Mai Khắc Ứng viết “Những người viết sử xưa đơn giản hóa sự cố này: chỉ bởi một giấc mơ hão huyền mà Đỗ Thích trở thành tên sát nhân. Đằng sau Đỗ Thích còn ai không? Tại sao khi Lê Hoàn thế chân thì quân Tống lại can thiệp?”10. Đồng thuận với giả thuyết trên, năm 1997, Đinh Công Vỹ đã công bố một số tài liệu tại Hoa Lư để giải thích cho sự kiện này. Ví dụ, cuốn Hoa Lư tự sự (Vân Sàng truyện) có ghi một đoạn thơ Nôm như sau:

Dương Thị Vân phản bội chồng
Từ lâu vốn đã tư thông Lê Hoàn
Đặt mưu hiểm, lập chước gian
Đầu độc giết chết Tiên Hoàng cha con
Đỗ Thích tri nội hậu quan
Đi tuần về thấy tâm can hãi hùng
Nhẩy ngay lên mái điện rồng
Bụng đói miệng khát long đong ba ngày
Trời mưa hứng nước giơ tay
Triều đình hô hóan lôi ngay xuống đình
Đổ cho tội thí Đinh Đinh
Để Lê gia xuất thánh minh trị vì.11

Năm 2013, giả thuyết “Lê Hoàn mưu sát cha con Đinh Bộ Lĩnh - Đinh Liễn”, được GS Keith Weller Taylor nhắc lại trong cuốn “A History of Vietnamese”. Ông viết như sau: “Tên thích khách, như được miêu tả, vốn mê muội bởi những điềm triệu báo rằng sẽ lên ngôi vua, (hắn) đã nhanh chóng bị bắt, giết và ăn thịt trong bối cảnh bất thường của tục ăn thịt người. Chúng ta không biết nhiều về quyền lực chính trị của gia tộc họ Đinh, nhưng đằng sau sự kiện này có lẽ còn ẩn chứa sự đối kháng giữa các phe cánh ngoại thích và thậm chí cả mưu đồ của Lê Hoàn cùng Dương Vân Nga - bà hoàng hậu có đứa con sống sót - người được tin rằng đã có tư tình với Lê Hoàn trước khi Đinh Bộ Lĩnh chết.”12 

Như vậy là, sự suy luận độc lập của Taylor và các tác giả khác cùng với những sử liệu quan phương và tư liệu dân gian tại Ninh Bình khiến ta nghĩ đến một âm mưu chuyển giao quyền lực từ Đinh sang Lê. Âm mưu ấy cụ thể ra rao, chúng tôi xin được triển khai ở phần tiếp theo.

Át chủ bài của một âm mưu cung đình

Đến đây có thể đi đến nhận định như sau. (1) Đỗ Thích là kẻ được cho là thích khách (có thể là bị thí tốt, hoặc ngẫu nhiên chết oan, hai khả năng là 50/5013). (2) Người được lợi nhất trong cuộc hành thích này chính là Lê Hoàn. 

Còn một câu hỏi quan trọng cần được cân nhắc ở đây. Vì sao Đinh Toàn, đứa con trai của Hoàng hậu họ Dương và Đinh Bộ Lĩnh, không bị giết? Để trả lời cho câu hỏi này, chúng tôi muốn dẫn một số sử liệu từ Toàn thư.

Sử liệu 1: Khi Đinh Bộ Lĩnh bị giết, Đinh Toàn mới 5 tuổi [sinh năm 974] (tr.215).

Sử liệu 2: Đinh Toàn lên ngôi năm 6 tuổi, Lê Hoàn nhiếp chính, tự xưng là Phó Vương (tr.215).

Sử liệu 3: Thái hậu Dương khoác áo long cổn cho Lê Hoàn lên ngôi, giáng phong Đinh Toàn làm Vệ Vương (tr.217).

Sử liệu 4: Nhà Tống cho đòi hai mẹ con (Dương Thái hậu và Đinh Toàn) sang Bắc quy phụ, đó là điều kiện để “trao cờ tiết” cho Lê Hoàn, nhưng Lê Hoàn không nghe. (tr.219). Như ta biết việc này đã dẫn đến chiến tranh với Tống. 

Sử liệu 5: năm 982, lập Dương thị làm Đại Thắng Minh Hoàng Hậu. Ngô Sĩ Liên bình: “Đại Hành thông dâm với vợ vua, đến chỗ nghiễm nhiên lập làm hoàng hậu, mất cả lòng biết hổ thẹn.” (tr.222).

Sử liệu 6: năm 1001, đi đánh giặc Cử Long,..., vua cũ [nhà Đinh] là Vệ Vương Toàn trúng tên chết tại trận. Vua [Lê Hoàn] kêu trời ba tiếng (TTD nhấn mạnh) rồi thúc quân đánh, giặc tan vỡ (tr.230).

Sử liệu 4 và 6 là vô cùng quan trọng, nhưng trước nay hầu như không được để ý đến. Từ những sử liệu trên, chúng ta có thể đi đến một số kết luận: (1) Lê Hoàn đã tư thông với Dương hậu từ trước năm 979 (xét, Lê Hoàn làm Thập đạo tướng quân, có quyền tự do ra vào cung cấm)14. Điều đó có nghĩa là (2) Đinh Toàn có khả năng cao chính là con đẻ của Dương hậu và Lê Hoàn. Đây chính là điểm mấu chốt quan trọng nhất mà các nghiên cứu trước đây chưa từng nghĩ đến. (3) Đinh Toàn sinh năm 974, như vậy việc tư thông phải có trước thời điểm này. (4) Nhà Tống dường như đã đọc được mối quan hệ ngầm trong hoàng cung Đại Cồ Việt nên đã vờ ra một “phép thử” tinh tế để có cớ xâm lăng. Dĩ nhiên, Lê Hoàn không thể đem hai mẹ con Dương hậu (hai con át chủ bài của cuộc đời) để lĩnh tiết việt. Lê Hoàn lên ngôi là việc đã xong, và việc đánh Tống là điều không thể tránh. Được hay mất, công hay tội, sống hay chết chính ở nước cờ cuối cùng này. Như ta biết, với chiến thắng chống Tống - chiến thắng lớn nhất trước đế chế đầu tiên của phương Bắc trong thế kỷ X, Lê Hoàn đã có tư cách của người chiến thắng để viết nên lịch sử của Đại Cồ Việt và lịch sử của đời mình.

Có thể nói, việc tư tình cùng những mâu thuẫn cung đình đã dẫn đến âm mưu chính trị. Triều đình nhà Đinh từ năm 979 trở về trước có thể đã được chia làm hai phe một cách ngấm ngầm. Phe thuộc về Đinh Bộ Lĩnh gồm Đinh Liễn, Hạng Lang, Đinh Điền, Nguyễn Bặc, Phạm Hạp và hai dòng ngoại thích của Liễn - Lang... - đây là phe được hưởng lợi ích của đương triều. Phe thuộc về Hoàng hậu họ Dương gồm Lê Hoàn, Thái sư Hồng Hiến15, Phạm Cự Lạng, Ngô Nhật Khánh (con của Dương hậu với họ Ngô)... đan xen quyền lợi, ân oán giữa các dòng họ mới - cũ. Đầu năm 979, Đinh Liễn giết chết Hạng Lang để tranh chức tự vương với câu bao biện gian hùng: “tranh quan chăng nhường chức, trước hạ thủ là hơn” (tranh quan bất nhượng vị, tiên hạ thủ vi lương)16. Một bàn cờ mới đã mở ra. Chỉ còn Đinh Liễn và Đinh Toàn là có tính chính danh để nối ngôi. Vì thế, âm mưu ám sát hai cha con họ Đinh là một nước đi liều lĩnh và táo bạo. Đinh Toàn lên ngôi và nhường ngôi dưới bàn tay bao bọc và xắp đặt của Dương hậu, Lê Hoàn và những người cùng phe cánh. Để củng cố ngôi vị, Lê Hoàn không những chỉ dùng chiêu “gửi trứng”, “đánh tráo huyết thống” mà còn phải sử dụng cả bạo lực để tiêu diệt những kẻ chống đối, và thanh trừng, lôi kéo những người trung lập. 

Đến đây có thể nói, Đinh Toàn là con át chủ bài trong ván cờ trao đổi quyền lực từ họ Đinh sang họ Lê. Toàn mang họ Đinh, tức là mang tính chính danh, nhưng khả năng cao lại là huyết thống của Lê Hoàn, là giọt máu nối hai triều đại. Nhìn lại toàn bộ sự kiện chúng ta thấy, các sử gia từ Thẩm Quát, Ngô Sĩ Liên cho đến Đinh Công Vỹ, K.W. Taylor đã nhìn Lê Hoàn - Dương hậu như là kẻ chủ mưu của vụ ám sát cha con Đinh Bộ Lĩnh. Thế nhưng, trong suốt thế kỷ XX cho đến nay, không ít những công trình sử học, các sách giáo khoa, tác phẩm văn học - sân khấu - điện ảnh, cũng như các phương tiện thông tin truyền thông đều cố gắng dựng lên một hình ảnh phụ nữ “vì nước quên thân” khi Dương Vân Nga khoác long bào cho Lê Hoàn. Phải chăng mỹ hóa lịch sử cũng là một biểu hiện của chủ nghĩa dân tộc (nationalism) ở Việt Nam?
---
1 Chữ dùng của GS Trần Quốc Vượng khi ông điểm diện các nhân vật của thế kỷ 10, đó là thế kỷ “có cái đê tiện của Đỗ Thích mà cũng có cái cao quý dâng duyên của Dương Vân Nga” [Trần Quốc Vượng. 1984. Việt Nam thế kỷ X- Văn hóa- Văn minh. Trong “Thế kỷ X: những vấn đề lịch sử”. Nxb.KHXH. H.  tr.230].

2 Hà Nguyễn, Phùng Nguyên. 2010. 500 câu hỏi đáp Lịch sử- Văn hóa Việt Nam. NXB Thông tấn. H. tr.80.

3 Chính Hòa thứ mười tám (1697). Đại Việt sử ký toàn thư. Nội các quan bản. Bản khắc in. Bản dịch. 1998. Tập 1. Ngô Đức Thọ dịch chú, Hà Văn Tấn hiệu đính. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.214

4 Tạ Chí Đại Trường. 2009. Bài sử khác cho Việt Nam. Văn Mới. USA. tr.132

5 A.B. Pôliacốp. 1996. Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X- XIV. Vũ Minh Giang, Vũ Văn Quân dịch; Lê Đình Sỹ, Nguyễn Xuân Mạnh, Hán Văn Tâm hiệu đính. Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam - NXB Chính trị Quốc gia. H. tr.38.

6 Vô danh. Thế kỷ 14. Việt sử lược. Trung Hoa thư cục. Bắc Kinh. Tái bản 1985. Q.1. tr.19.

7 Tạ Chí Đại Trường. 2009. sđd. Tr.132.

8 Thẩm Quát (1031- 1095), (1093, tb1975). Nguyên san Mộng Khê bút đàm. Văn vật xuất bản xã. Bắc Kinh. Vol.25: 26-27.

9 Về mặt giám định sử liệu của Mộng Khê bút đàm xin xem bài Nguyễn Phúc Anh. 2012. Những tư liệu về nguyên quán của Lý Công Uẩn. Tạp chí Nghiên cứu và Phát triển. số 8-9 (97- 98). 2012. tr.182- 204.

10 Mai Khắc Ứng. 1996. Chính sách khuyến nông dưới thời Minh Mạng. NXB Văn hóa - Thông tin, Hà Nội, tr.33, 34.

11 Chuyển dẫn Đinh Công Vỹ. 1997. Góp phần làm sáng tỏ hình ảnh Đinh Điền - Nguyễn Bặc qua một số tư liệu Hán Nôm và dân gian. Thông báo Hán Nôm học. NXB KHXH. H. tr. 719-737.

12 Keith Weller Taylor. 2013. A History of the Vietnamese. Cambridge University Press. New York. pp.53-54.

13 Tuy nhiên, theo “gia phả họ Đỗ ở Đại Đê, huyện Vụ Bản và sự tích đền Thảo Mã (tức đền Gạo ở xã Thanh Bình, huyện Thanh Liêm) có nói tới việc Đỗ Thích có công cõng Đinh Tiên Hoàng chạy trốn khi ông bị Nam Tấn Vương đuổi. Người cứu vua, lại thành kẻ giết vua thì quả là khó hiểu?“ [Đinh Công Vỹ. 1997. bđd].

14 Đặng Xuân Bảng. 2000. Việt sử cương mục tiết yếu. Hoàng Văn Lâu dịch và chú giải. NXB Khoa học Xã hội. Hà Nội. tr.66.

15 “Thái sư Hồng Hiến chết. Hiến là người Bắc [tức Trung Quốc], thông hiểu kinh sử, thường theo các cuộc chinh phạt làm quân sư, cùng là khuyên vua lên ngôi, mưu bàn việc nước, có công lớn, vua tin dùng như tâm phúc...“ (Toàn thư, tr.226).

16 Đinh Liễn. 979. Kinh tràng cầu siêu cho Hạng Lang. Bảo tàng Ninh Bình. [Xem thêm bản dịch trong Hà Văn Tấn. 2002. Chữ trên đá - chữ trên đồng - minh văn và lịch sử. NXB KHXH. Hà Nội.]

Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=115&News=7127&CategoryID=41
Lịch sử Đại Việt được sự nhúng tay của đàn bà khá nhiều, và đàn bà Đại Việt cũng rất ghê gớm. Tuy nhiên hầu hết đàn bà Đại Việt đều chỉ tìm mọi cách đem lại quyền lực cho chồng, cho con, chứ không ai thích lên làm "vua bà", kiểm soát triều chính như đám nữ lưu bên Tàu. 

Tất nhiên là không tính Hai Bà Trưng, Bà triệu, khi đó vẫn còn là chế độ mẫu hệ, về bản chất thì không ai dị nghị về việc các bà làm vua cả.

Hãy điểm qua vài Hoàng hậu có thể coi là ghê gớm nhất trong lịch sử Đại Việt:

1. Dương Thái hậu:
Là Hoàng hậu của hai triều Đinh, Tiền Lê. Là vợ của 2 hoàng đế chiến tướng chinh chiến tài ba vào bậc nhất lịch sử Đại Việt, Dương thị cũng không hổ danh là 1 bậc nữ trung hào kiệt.


Sinh ra Đinh Toàn vốn dĩ không có hy vọng được làm Thái tử, Dương hậu đã tư thông cùng Thập đạo tướng quân Lê Hoàn để sát hại cả Đinh Tiên Hoàng đế và Đinh Liễn, đưa thành công con mình lên ngôi. Sau khi có sự phản biến của các trung thần triều Đinh, thì Dương hậu lại rất nhanh chóng đưa người tình lên ngai vàng Đại Việt, tiếp tục kiến lập 1 triều đại mới, nơi bà tiếp tục làm Hoàng hậu.

2. Ỷ Lan hoàng thái hậu
Ỷ Lan lại là điển hình của việc đàn bà can dự vào chuyện triều chính. Từ một cô thôn nữ, lọt vào mắt Thánh Tông, sinh Thái tử mà được phong làm hoàng phi. Nhưng Ỷ Lan khiến người ta kinh ngạc trong việc điều khiển chính trường. 2 lần nhiếp chính cho thấy tài trị quốc của bà, nhưng việc đoạt quyền, hãm chết Thượng Dương hoàng hậu, khuất phục được cả 1 lão thần dày dặn kinh nghiệm chính trị như Lý Đạo Thành chứng tỏ tâm cơ của bà rất sâu xa.


3. Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung
Trần Thị Dung là điển hình của việc vì cha khinh chồng. Dù đã là hoàng hậu của nhà Lý, nhưng Trần Thị Dung lại tìm mọi cách để dâng giang sơn nhà chồng cho nhà mình, ép uổng cả 2 con gái mình là Chiếu Thánh và Thuận Thiên trong những cuộc hôn nhân chính trị với 2 anh em Trần Liễu, Trần Cảnh.

Nói chung Trần Thị Dung không thể hiện nhiều tài nghệ về chính trị, nhưng dã tâm lại quá ác độc đối với nhà chồng của mình.


4. Thái hậu Nguyễn Thị Anh
Nguyễn Thị Anh là điển hình của 1 hoàng hậu, tìm mọi cách để đưa con mình lên làm Hoàng đế. Tranh giành hậu cung, dèm pha, hãm hại các phi tần khác, các quan lại đối đầu với mình, để lại thảm án Lệ Chi Viên nổi tiếng muôn đời.


Nguyễn Thị Anh về cơ bản không hiểu gì về trị quốc, chỉ tìm mọi cách đưa con mình lên ngôi và sau đó dựa vào các đại thần để cai trị quốc gia.


Nguồn: lichsuvn.net

Sử sách chép rằng, Trần Thị Dung vốn có tên là Trần Thị Ngừ, là con gái của Trần Lý, em gái kế của Trần Thừa và Trần Tự Khánh, tức là cô ruột của vua Trần Thái Tông. Cuộc đời của bà luôn gắn chặt với giai đoạn cuối của vương triều Lý và thời kỳ đầu của nhà Trần. Từ việc lấy Hoàng tử Sảm để dọn đường đưa họ Trần vào triều đình nhà Lý, cho đến khi bị giáng xuống làm Thiên Cực công chúa và lấy Trần Thủ Độ, bà đã trải qua biết bao thăng trầm, vinh có, nhục có, vui cũng có và buồn cũng có...

Mối tình đầu dang dở với Phùng Tá Chu
Phùng Tá Chu là bề tôi triều Lý, nhưng sau này lại giữ chức Phụ quốc thái phó triều Trần, rồi nắm quyền Tri phủ Nghệ An, cho phép ban tước từ tá chức, xá nhân trở xuống cho người khác, rồi sau về triều tâu lễ.
Linh từ quốc mẫu Trần Thị Dung. Ảnh minh họa
Theo sử liệu, vào thời đó, vợ chồng Trần Lý đã là bậc phú gia dịch quốc, hùng trưởng cả một vùng. Trần Thị Dung trở thành đóa phù dung chói ngời từ trên cao, mà nhiều chàng trai có danh vọng muốn theo đuổi. Lúc đó, duy chỉ có Phùng Tá Chu, hơn Dung hai tuổi, là một chàng trai khỏe mạnh, có tư chất thông minh hơn người, văn võ toàn tài có thể sánh ngang với người đẹp. Chưa kể, Tá Chu lại là bạn thân và là em kết nghĩa của Trần Tự Khánh, anh ruột của Trần Thị Dung, lại được Trần Lý giao cho chỉ huy, rèn luyện đội gia binh họ Trần với mấy trăm tay cung kiếm.
Trần Thị Dung rất có cảm tình với Trần Tá Chu. Tá Chu thấy vậy, càng dốc hết tâm sức với họ Trần, hết sức quan tâm và thuận chiều những gì mà mỹ nhân yêu ghét. Song, vì "có duyên nhưng không nợ", sách
Đại Việt sử ký toàn thư 
ghi, năm 1209, triều đình xảy ra binh biến, Hoàng tử Sảm (tức vua Lý Huệ Tông) chạy đến thôn Lữ Gia - Hải Ấp. Trên đường chạy, Hoàng tử được ông chủ thuyền cá Trần Lý đón về nhà mình ở làng Tức Mạc (Nam Định) che chở. Tại đây, Hoàng tử nghe tiếng Trần Thị Dung có nhan sắc, bèn cậy ông Tô Trung Tự - cậu ruột Trần Thị Dung làm mối, để cưới bà làm vợ...
Vậy là, Trần Thị Dung nhanh chóng trở thành vợ của Hoàng tử Sảm. Khi Vua Lý Huệ Tông ốm yếu, mắc bệnh điên nên bất lực, không đáp ứng được khí chất cho bà, Trần Thị Dung luôn nghĩ tới người tình đầu Tá Chu. Tuy nhiên, ai oán rằng, Phùng Tá Chu đã tự thiến từ lâu...

Từ dân thường... trở thành Hoàng hậu của Vua Lý Huệ Tông
Tháng 10 năm Trị Bình Long Ứng thứ sáu, Vua Lý Cao Tông băng hà. Hoàng tử Sảm lên ngôi, bấy giờ mới 16 tuổi. Nhà vua sai quan quân đi đón Trần Thị Dung về triều. Tuy nhiên, Thái hậu Đàm Thị lại muốn tìm trong hàng tôn thất cho vua trẻ một người vợ xứng đáng, nên tỏ rõ thái độ ghét bỏ và tìm mọi cách xỉ vả Trần Thị Dung. Sách Danh Tướng Việt Nam viết: Từ ngày vào cung, cuộc đời của bà Trần Thị Dung trải qua không ít phen ba chìm bảy nổi… Ban đầu, bà được nhà vua phong làm Nguyên phi, bậc cao nhất trong hàng thứ hai của vợ vua, đứng sau Hoàng hậu. Vì có chút nghi ngờ đối với Trần Tự Khánh, người anh trưởng của bà Trần Thị Dung, Vua Lý Huệ Tông đã giáng bà xuống hàng Ngự nữ, bậc thấp nhất trong hàng các thứ bậc của vợ vua.
Khi thấy Trần Thị Dung đau đớn, mệt mỏi, lại luôn bị Thái hậu dày vò, vua Lý Huệ Tông cảm thấy xót xa. Nhà vua vẫn rất yêu bà, nên bất chấp mọi thị phi, vào mùa xuân năm 1216, vua lại sắc phong cho bà làm Thuận Trinh phu nhân. Đến cuối năm, bà được phong làm Hoàng hậu. Dù được vua tin yêu nhưng bà vẫn không thoát được sự giám sát gay gắt của Thái hậu Đàm Thị. Thái hậu giận lắm, thường chỉ mặt bà mắng là đồ phản trắc, làm tay trong, là bè đảng của giặc. Thái hậu nằng nặc đòi Vua Huệ Tông đuổi bà đi. Ép không được, Thái hậu bỏ thuốc độc vào món ăn uống của Thị Dung. Vua Lý Huệ Tông biết vậy, thương vợ nhưng cũng không dám ra mặt bênh vực mà chỉ tìm cách âm thầm ngăn chặn. Mỗi bữa ăn, Vua lại cho gọi Thị Dung ăn cùng, chia đôi suất của mình và không lúc nào để bà ăn một mình.
Thế nhưng, Đàm Thái hậu vẫn nung nấu ý định giết Trần Thị Dung hoàng hậu đến cùng. Một lần, Thái hậu sai người đem chén thuốc độc bắt bà phải uống. Vua biết chuyện, đích thân đến ngăn lại, rồi cùng bà đang đêm lẻn trốn đi, nương nhờ vào thế lực của Trần Tự Khánh. Từ đó, cuộc sống của Bà hoàng Trần Thị Dung mới tạm thời yên ổn. Bà sinh được hai cô con gái là công chúa Thuận Thiên và Chiêu Thánh. Rồi dần dần, quyền lực triều chính rơi vào tay họ ngoại - "nhà Trần". Con cháu họ Trần thừa cơ hội lọt vào triều đình cung cấm, nắm những chức vụ trọng yếu.Trần Thị Dung nhờ vào sự khéo léo của mình, đã thuyết phục được nhiều hoàng thân quốc thích và quan quân nhà Lý, yên tâm dựa vào tướng lĩnh họ Trần.

Bị giáng xuống làm Thiên Cực công chúa và lấy Trần Thủ Độ
Lại nói khi Trần Thị Dung và Phùng Tá Chu say mê nhau, thì trong họ Trần cũng có người "chết mê chết mệt" bà là em con chú ruột Trần Thủ Độ - thường tìm những chuyện bịa đặt hòng gièm pha Tá Chu trước mặt Trần Lý.Theo một số tài liệu, Trần Thủ Độ không chịu đọc sách, nhưng rất thạo cung kiếm, mạnh bạo, láu cá, thường trốn học đến nhà Trần Thị Dung để gần gũi người đẹp. Khi phát hiện ra mưu đồ của Thủ Độ, mọi người trong nhà đều cực lực phản đối và Trần Thị Dung vì thế không có cảm tình với chàng trai này.Năm Quý Mùi (1223), Trần Thừa lên làm Phụ quốc thái úy, Lý Huệ Tông lại phong Trần Thủ Độ làm điện tiền chỉ huy sức và ông càng có điều kiện lộng hành, ra vào chốn thâm cung để tính chuyện "tằng tịu" với Trần Thị Dung, người mà ông khao khát ngay từ hồi niên thiếu.Lúc đó, Trần Thủ Độ đang tuổi trai tráng, mạnh mẽ, đầy nam tính, trong khi Trần Thị Dung lại "phòng the" lạnh lẽo. Vì vậy, con người như Trần Thủ Độ, tuy hồi trẻ bị bà hờ hững, ghét bỏ thì nay... bỗng "quý giá" vô cùng. Trần Thị Dung và Trần Thủ Độ đã "cắm sừng" Vua Lý Huệ Tông, sống già nhân ngãi, non vợ chồng với nhau để vừa thỏa mãn dục vọng vừa tính chuyện chuyển giao quyền lực từ nhà Lý sang nhà Trần.Ngày 11 tháng 12 năm Ất Dậu (1225), Vua bà Chiêu Hoàng (con gái Vua Lý Huệ Tông và Trần Thị Dung) trút bỏ áo ngự, mời Trần Cảnh lên ngôi Hoàng đế... và phong Trần Thủ Độ làm Quốc thượng phụ, coi việc thiên hạ. Nhà Trần đã hoàn toàn điều hành đất nước và Trần Thị Dung cũng làm vợ chính thức của Trần Thủ Độ.Có thể nói, Linh từ Quốc mẫu Trần Thị Dung là người con gái thông minh, tài ba, gan dạ và có chí lớn, có đầu óc tổ chức phi thường… Khi Trần Thủ Độ chưa xuất hiện, bà là người cáng đáng toàn sự vất vả gian truân, trầm luân để mở nghiệp nhà Trần. Đến lúc có Trần Thủ Độ trong cung đình nhà Lý, bà đã cộng tác đắc lực với Thủ Độ trong việc khai sinh và xây dựng triều đại nhà Trần, đáp ứng được đòi hỏi xây dựng một đất nước vững mạnh để chống giặc Nguyên - Mông đang lâm le xâm lược Đại Việt. 

Nguồn: http://baodatviet.vn/

Thứ Bảy, 24 tháng 10, 2015

Nhằm xóa bỏ tận gốc mọi ảnh hưởng của nhà Mạc đối với đương thời cũng như hậu thế, các sử gia “vua Lê-chúa Trịnh” tuân theo ý đồ của những kẻ cầm quyền đã không ngần ngại xuyên tạc sự thật để bôi nhọ và hạ nhục cha con Mạc Đăng Dung đến thậm tệ.
Theo sử sách thì Mạc Đăng Dung (1483-1541)- Thái tổ nhà Mạc (1527-1592), vốn xuất thân từ một gia đình ngư dân nghèo ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là xã Ngũ Đoan, Kiến Thụy, Hải Phòng). Về dòng dõi huyết thống, theo Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn thì Mạc Đăng Dung là hậu duệ đời thứ 7 của Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi (1280-1350) ở Lũng Động, Hải Dương, đến đời tổ phụ là Mạc Đăng Bình lại từ Thanh Hà chuyển cư xuống Cổ Trai. Do hoàn cảnh bẩn bách, nên vừa lớn lên, Đăng Dung đã phải dở dang nghiệp thi thư để lo kế sinh nhai bằng nghề đánh cá và chèo đò thuê. Nhưng sức khỏe và chí lớn hơn người đã giúp ông về sau làm nên nghiệp đế vương. Từ một chàng trai nổi tiếng khắp vùng về môn đánh vật giật giải, ông đã thi đỗ Đệ nhất Đô lực sĩ (Trạng nguyên võ) dưới triều vua Lê Uy Mục (1505-1509) và được sung vào đội quân túc vệ, giữ việc cầm tán đi theo xe vua.
Ít lâu sau, Mạc Đăng Dung được đặc cách thăng bổ Đô chỉ huy sứ Vệ Thiên Vũ là chức quan đứng đầu quân Cấm Vệ. Năm Hồng Thuận thứ 3 (1511), ông được tấn phong tươcs Vũ Xuyên Bá và đến năm Quang Thiệu nguyên niên (1516) triều Lê Chiêu Tông, ông được cử làm Trấn thủ Sơn Nam và gia phong chức Phó tướng Tả đô đốc. Niên hiệu Quang Thiệu thứ 3 (1518), Mạc Đăng Dung được thăng chức Vũ Xuyên hầu và chuyển ra trấn thủ Hải Dương. Tiếp theo quan năm sau (1519) do có công lớn dẹp yên bọn phản loạn Lê Do và dụ hàng được phe đảng chống lại triều đình là bọn Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc… lấy được Kinh đô nên Mạc Đăng Dung được thăng thưởng tước phong Minh quận công. Và đầu năm Quang Thiệu thứ 5 (1520), theo đề nghị của Thượng thư bộ Lễ Phạm Gia Mô (1476-?) và nhiều trọng thần khác, Lê Chiêu Tông đã ưng thuận giao chức Tiết chế các doanh Thủy lục quân 13 đạo (tức Tổng tư lệnh quân đội) cho Mạc Đăng Dung.
Liền năm sau (1521), ông được thăng Thái phó, tước Nhân quốc công. Sang thời vua Lê Cung Hoàng (1522-1527), vào năm Thống Nguyên thứ 3 (1524), ông được thăng tước Bình chương quân quốc trọng sự Thái phó Nhân quốc công. Đầu năm Thống Nguyên thứ 6 (1527), bằng sự ân sủng đăch biệt, vua Cung Hoàng đã thăng cho Mạc Đăng Dung tước Thái sư An Hưng Vương, gia Cửu tích- mặc dù lúc này ông đã lui về quê Cổ Trai nhằm tránh tai tiếng quyền hành. Vậy là từ một người lính túc vệ vác tán theo hầu xe vua, sau hơn 20 năm tham chiến và tham chính giữa thời tao loạn, Mạc Đăng Dung đã lên tới đỉnh điểm của danh vọng.
Tuy nhiên, bước vào giai đoạn lịch sử này, cục diện tình hình đất nước đang lâm vào bối cảnh khủng hoảng chính trị vốn đã kéo dài hàng chục năm lại càng bi đát hơn. Nhà Lê-do Lê Lợi khai sáng, qua thời thịnh trị dưới thời vua Lê Thánh Tông (1460-1497) thì tiếp đến các đời vua sau ngày một trượt dài vào con đường suy vi không sao cưỡng nổi. Hết “Vua lợn” (Lê Uy Mục) đến “Vua quỷ” (Lê Tương Dực) chỉ biết ăn chơi trác táng đã đấy muôn dân bách tính vào cảnh lầm than khốn cùng thì sang thời Lê Chiêu Tông (1516-1522) tình hình đất nước càng rối loạn hơn do sự xâu xé quyền lực giữa các phe phái quý tộc gây nên.
Lê Chiêu Tông bị phế truất, Lê Cung Hoàng mới 15 tuổi lên thay chẳng khác gì “sào gậy chống bè lim” lại càng không thể xoay chuyển được tình thế. Trước bối cảnh đó, lịch sử không còn sự lựa chọn nào khác là phó thác quyền trị vì đất nước vào tay Mạc Đăng Dung để khởi dựng lên triều đại mới- nhà Mạc- vào đúng ngày 15 tháng 6 năm Đinh Hợi (1527) mà như Lê Quý Đôn đã viết trong Đại Việt thông sử rằng: “Lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Mạc Đăng Dung ..”

Tiếng rằng tiếp nhận ngôi báu từ nhà Lê chuyển sang nhưng thực chất là tiếp nhận một cơ đồ trống không và vì thế Mạc Thái tổ Đăng Dung đã phải gây dựng lại tất cả. Nhưng nhờ biết tập hợp xung quanh mình nhiều người tài trí, lại được đồng thuận nhân tâm của thần dân nên chỉ vài năm sau đó, nhà Mạc dần dần từng bước đưa đất nước vào thế ổn định vững vàng. Trên đà khởi sắc đó, tháng 3 năm Minh Đức thứ 3 (1529), vương triều Mạc non trẻ đã mở khoa thi Hội đầu tiên và lấy đỗ 27 tiến sĩ (kể từ đó, đều đặn 3 năm một khoa, nhà Mạc đã tổ chức được 22 khoa thi lấy đỗ 499 tiến sĩ và 13 Trạng nguyên-số lượng khoa thì và số nhân tài được đào tạo này có thể so sánh tương đương với thời Lê Thánh Tông).
Cũng cuối năm đó, xét thấy công việc triều chính đã vận hành nhịp nhàng, quy củ đúng theo sở nguyện nên Mạc Đăng Dung quyết định truyền ngôi cho con trưởng là Mạc Đăng Doanh rồi lui về Cổ Trai với chức trách Thái Thượng Hoàng. Ở cương vị Thái Thượng Hoàng, suốt mười năm trời, Mạc Đăng Dung làm cố vấn cho con điều hành công việc triều chính và đã đưa đất nước vào thời thịnh trị với những thành tựu phát triển rực rỡ trên nhiều lĩnh vực kinh tế, tư tưởng, văn hóa… Chính sử thần Lê-Trịnh là Lê Quý Đôn tuy vẫn gọi Mạc Đăng Dung và các vua Mạc kế tiếp là “nghịch thần” nhưng cũng phải thừa nhận trong Đại Việt thông sử rằng: “Đăng Doanh thấy trong nước còn nhiều trộm cướp, bèn ra lệnh cấm nhân dân các xứ không được mang gươm giáo, dao nhọn và các đồ binh khí đi ngoài đường. Từ đấy, những người đi buôn bán chỉ đi tay không, không phải đem khí giới tự vệ, trong khoảng mấy năm, trộm cướp biệt tăm, súc vật chăn nuôi tối đến không phải dồn vào chuồng, cứ mỗi tháng một lần kiểm điểm thôi.
Mấy năm liên tiếp được mùa, nhân dân bốn trấn đều được yên ổn” (Sđd, NXB KHXH-Hà Nội, 1978-Tập I, trang 276). Có thể nói từ cơ đồ hoang tàn do những “vua lợn”, “vua quỷ” để lại mà đã nhanh chóng khôi phục và lập được nền an ninh trên toàn cõi như thế thì thử hỏi đã có triều đại kim cổ nào làm được như nhà Mạc dưới thời cha con Mạc Đăng Dung? Một học giả người Mỹ là John Whit More- tác giả cuốn “The Birth of Viet Nam” (sự hình thành của Việt Nam) rất nổi tiếng, đã nêu một luận điểm mà ngay giáo sư sử học Trần Quốc Vượng cũng cho là thú vị rằng: Cái gì cải cách Hồ Quý Ly thất bại thì Mạc Đăng Dung và con cháu đã làm được. Nhưng rồi phải chăng vì quá lo nghĩ đến việc nước, việc dân mà một người có sức khỏe phi thường- từng sử dụng một thanh long đao dài 2,5m, nặng hơn 25,5kg (hiện còn lưu giữ tại từ đường họ Phạm gốc Mạc ở thôn Ngọc Tỉnh, Xuân Hùng, Xuân Thủy, Nam Định) như Mạc Đăng Dung lại sớm băng hà khi chưa đầy 60 tuổi. Ấy là ngày 22 thánh 8 năm Quảng Hòa thứ nhất đời vua Mạc Phúc Hải (1541).
Tương truyền, khi lâm bệnh, vua cháu là Phúc Hải từ Thăng Long về thăm, biết khó qua khỏi nên Mạc Đăng Dung đã căn dặn mọi việc và dục cháu nhanh chóng hồi kinh “để trấn an nhân tâm và coi xã tắc là trọng”. Vốn sinh thời rất ghét những chuyện mê tín dị đoan, nên trong di chúc ông nhắc nhở: không làm chay đàn cúng Phật. Sau khi Mạc Đăng Dung qua đời, nhà Mạc với 3 đời vua kế tiếp còn làm chủ đất nước được hơn nửa thế kỷ thì mới bị thất thế vào năm 1592 và sau đó tại vùng non nước Cao Bằng còn tồn tại kéo dài thêm 4 đời vua nữa, cho đến năm 1677, tính ra vừa tròn 150 năm mới mất hẳn.

Nhà Mạc mất bởi ngọn cờ “Phù Lê diệt Mạc” do Nguyễn Kim (1467-1545) khởi dựng trên đất Lào (Sầm Châu) từ năm 1530. Sau khi Nguyễn Kim bị một tướng nhà Mạc giết chết thì người kế thừa là Trịnh Kiểm (?-1570) vốn là con rể của Nguyễn Kim mới tạo được cục diện Nam-Bắc triều chống đối quyết liệt với nhà Mạc để giành quyền bính về tay họ Trịnh. Nhưng cục diện phân tranh này kéo dài cho đến đời con Trịnh Kiểm là Trịnh Tùng (?- 1623) thì họ Trịnh mới thắng thế. Bước ngoặt lịch sử “đoạt bá đồ vương” này không chỉ đẩy thân tộc họ Mạc vào thảm tru di khốc liệt kéo dài mà công tích và sự nghiệp suốt 65 năm tồn tại của vương triều Mạc cũng bị phủ nhận sạch trơn trước chính sách thù hận của tập đoàn Lê-Trịnh.
Nhằm xóa bỏ tận gốc mọi ảnh hưởng của nhà Mạc đối với đương thời cũng như hậu thế, các sử gia “vua Lê-chúa Trịnh” tuân theo ý đồ của những kẻ cầm quyền đã không ngần ngại xuyên tạc sự thật để bôi nhọ và hạ nhục cha con Mạc Đăng Dung đến thậm tệ.
Ngoài tội “thoán nghịch”, Đại Viết Sử ký toàn thư do Phạm Công Trứ (1600-1675) chủ biên phần kỷ nhà Lê còn gán cho cha con Mạc Đăng Dung thêm cái tội tày đình là “dâng đất đầu hàng nhà Minh” Sự thật thì thế nào? Do khuôn khổ bài viết không cho phép dẫn giải cặn kẽ, nên ở đây, trong việc nhà Mạc bị coi là ngụy triều, chỉ xin được trích dẫn ý kiến của giáo sư Trần Quốc Vượng tại cuộc hội thảo khoa học về vương triều Mạc ngày 18/7/1994 ở Hải Phòng rằng: “Không nên chỉ nhìn nhận và đánh giá công nghiệp nà Mạc qua những gì sử thần nhà Lê viết. Triều đình Lê-Trịnh đối nghịch với nhà Mạc từ đầu đến cuối thế kỷ XVI và còn tiếp tục đối nghịch với triều Mạc thu nhỏ ở Cao Bằng ba đời nữa cho đến hết nửa đầu thế kỷ XVII; do vậy sử thần Lê-Trịnh bôi xấu triều Mạc là chuyện tất nhiên, “yêu nên tốt, ghét nên xấu” là chuyện thường tình. Mạc Đăng Dung lấy ngôi nhà Lê không phải từ tay một vua Lê anh hùng như Lê Lợi, một vua Lê có học vấn và tài năng như Lê Thánh tông, mà là những vua lợn, vua quỷ. Sự thay thế dó là hợp lẽ Đời và Đạo”.
Còn việc “dâng đất đầu hàng nhà Minh”? Vấn đề này, sách Đại Nam nhất thống chí của triều Nguyễn (1802-1945) và Phương Đình dư địa chí của Nguyễn Văn Siêu (1799-1872) đều khẳng định rằng nhà Mạc trả đất chứ không phải là dâng đất. Nhưng  thế nào gọi là trả đất? Trong bài “Mạc Đăng Dung có dâng đất cho nhà Minh hay không?” của tác giả Huệ Thiên đăng trên Bán nguyệt san Kiến thức ngày nay- số ra ngày 15/10/1991 đã lý giải hết sức cụ thể về việc này vốn có căn nguyen từ thời Lý ở thế kỷ XI. Gần đây hơn, trên tạp chí Cửa biển (Hải Phòng) số 75/2004, trong bài “Sách lược ngoại giaos của nhà Mạc” của tác giả Ngô Đăng Lợi đã trích dẫn  sách Khâm Châu chí của Trung Quốc rằng: “Bảy động Chiêm Lăng, Thi La, Tư Lặc, Liêu Cát, Cổ Lâm, Tư Sẫm, La Phù (tức là những xứ đất dọc biên giới Việt –Trung mà nhà Minh đòi nhà Mạc phải trả lại-NPT) nguyên là đất quận Thi La, Chiêm Lãng, Như Tích đời Tuyên Đức nhà Minh, bọn Hoàng Kim Quảng, trưởng động Tư Lẫm làm phản chiếm cứ Tư Lẫm, La Phù, Cổ Sâm, Liêu Cát, nhân đó uy hiếp cả động Tư Lặc cùng tuần ty kênh Phật Đào gồm 9 thôn, đăng dài hơn 200 dặm phụ về nước An Nam…”
Còn như sự kiện Mạc Đăng Dung cùng vua cháu là Phúc Hải tự trói mình và buộc dây thừng vào cổ rồi đi chân không đến bò rạp trước Mạc Phủ quân Minh ở Nam Quan để dang biểu đầu hàng vào tháng 11 năm Canh Tý (1540) như sử nhà lê chép và về sau là Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim thêu dệt thêm nhiều chi tiết thì lại càng khó tin.
Một con người dũng lược như Mạc Đăng Dung, lại có những bề tôi trung thành nổi tiếng hiền tài như các Trạng nguyên Nguyễn Bỉnh Khiêm, Giáp Hải, Ngô Miễn Thiệu… chẳng lẽ lại chịu nhục đến thế sao? Việc này theo sách Thù vực chu tư lục của Nghiêm Tòng Giản đời Minh mà tác giả Ngô Đăng Lợi trong bài viết đã nêu trên có dẫn lại là: Mạc Đăng Dung cùng đoàn tùy tùng chỉ không mặc phẩm phục, cổ buộc dây lụa tượng trưng cho sự đầu hàng, đến lạy và cúi đầu trước long đình che lọng vàng-tượng trưng cho Hoàng đế nhà Minh. Phải hiểu được cái thế của nhà Mạc trong bối cảnh “thù trong giặc ngoài” o ép lúc bấy giờ mới thấy rằng “khổ nhục kế” buộc vương triều Mạc phải chấp nhận như nêu trên là không có sự lựa chọn nào hơn nhằm tránh cho đất nước một cuộc chiến tranh xâm lược khi mà nhà Minh đã đưa đại quân áp sát biên giới. Mặc dù vậy nhà Mạc vẫn không ngừng cảnh giác và chủ động đối phó ngay từ thời kỳ đầu lập quốc.
Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn cũng đã viết: “Năm Giáp Ngọ niên hiệu Nguyên Hòa thứ 2 (1534) vua Minh sai Hàm Ninh hầu Cửu Loan và Binh bộ thượng thư Mao Bá Ôn dẫn quân đến biên giới nước ta, tuyên bố là sang đánh họ Mạc. Đăng Doanh lo sợ, liền tu sửa trại sách, luyện tập thủy quân; trưng cầu hết thảy các cựu thần lão tướng để cùng bàn việc nước…” (Sđd-Tập I, trang 277). Sách Thù vực chu tư lục của Nghiêm Tòng Giản còn cho biết rõ thêm: Triều đình nhà Minh bàn luận khá căng thẳng về việc có nên đánh nhà Mạc hay không. Khi bọn Mao Bá Ôn đến Nam Ninh thì hay tin quân dân nhà Mạc đã ráo riết chuẩn bị đề kháng quyết liệt (nguyên văn: giao nhân đại cảnh bị), lấy thuốc độc, bả đậu bỏ vào suối nước, đào hố, cắm chông cản vó ngựa, lại phao tin sẽ theo đường biển tấn công vào Quảng Đông…(Ngô Đăng Lợi- Bđd). Như vậy là nhà Mạc chỉ cầu hòa với nhà Minh chứ không đầu hàng- đúng như nhận định của giáo sư Trần Quốc Vượng là “thần phục giả, độc lập thực”.

Thay lời kết: Trong bài “Một chút cơ duyên với họ Mạc” (Hợp biên thế phả họ Mạc-NXB Văn hóa dân tộc, 2001) giáo sư Trần Quốc Vượng đã nêu một nhận xét rất đáng suy ngẫm trong việc nhìn nhận, đánh giá nhà Mạc: “Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm(đỗ Trạng đầu thời Mạc 1533, thời cuối Lê không chịu đi thi) cũng như người bạn vong niên thân thiết của ông Trạng nguyên Giáp Hải-với bài thơ “Vịnh bèo” nổi tiếng của ông đối đáp với tướng Mao Bá Ôn nhà Minh-là hai vị Trạng nguyên sáng giá nhất của triều Mạc và của mọi thời đại Việt Nam. Không lẽ một ngụy triều tồi tệ lại sản sinh ra những hiền tài-nguyên khí quốc gia? Không lẽ thời Mạc “tồi tệ” ấy lại để lại cho đến nay những cái đình (Tây Đằng, Thụy Phiêu, Thanh Lũng, Thổ Hà, Tường Phiêu, Đinh Là…), các chùa quán (Hội Linh, Bối Khê, Trăm Gian…) với các điêu khắc gỗ tinh tế đầy bản sắc dân tộc-dân gian, các tượng chân dung hiện thực vào loại đầu tiên của nền mĩ thuật dân gian, không lẽ dưới một vương triều, đế triều “bán đất”, “đầu hàng” mà lại phát triển công thương dường ấy?..”

Thiết nghĩ, tên tuổi và hành trạng của Mạc Thái tổ Đăng Dung không thể tách rời những thành tựu mà nhà Mạc đã đạt được xuyên suốt 65 năm tồn tại trong lịch sử đất nước.

Theo THÔNG TIN KHCN NGHỆ AN

Thứ Ba, 13 tháng 10, 2015

Em lạc vào tình yêu gói tròn trong lớp áo dày. Em lạc vào những thổn thức tin yêu của trái tim, yêu một người chẳng cần được đáp lại, yêu một người trong nỗi cô đơn ngấm dần mỗi khi mùa về chênh vênh.



Em nhớ anh. Nỗi nhớ là thứ cảm xúc bất chợt đến giữa một chiều Hà Nội mưa và buốt lạnh. Lâu lắm rồi em chẳng đi đâu xa một mình. Lâu lắm rồi mới lại thấy lòng bình yên đến lạ kỳ.

Em đi...

Đi theo cách thông thường nhất, đi theo những chuyến bus quên mất điểm dừng. Cảm xúc của bản thân cũng như một chuyến bus đi lạc, đến đâu thì đến, tới đâu thì tới, mà trái tim vẫn cứ yêu thương một ai đó đến khó lòng kiểm soát nổi.

Đi lạc, một mình giữa ngả đường lạnh ngắt, em thấy mình lạc lõng giữa mùa đông ...

Có những ngày buồn vui như thế, bản thân đi lạc, con người đi lạc, trái tim đi lạc và cảm xúc cũng chẳng đúng đường về .

Em lạc vào nỗi nhớ mang tên anh. Trời càng lạnh, con người càng thích trùm lên mình chiếc áo màu cô đơn. Đâu đó giữa thành phố này có một người đợi anh trở lại, cũng chỉ là đợi trong nỗi nhớ lạ lùng: nhớ nụ cười lúc nào cũng ấm áp, nhớ đôi tay luôn nắm chặt tay em, nhớ .... Đơn giản là lạc vào miền nhớ anh để thấy hao gầy một thứ tình xưa cũ, em giật mình khi thấy bóng quen. Là ám ảnh, là chẳng thể nào quên anh.

Em thương mình lạc giữa mùa đông 1



Em lạc vào niềm thương cũng chỉ có mình anh. Hình như em quên mất cách mình từng mạnh mẽ. Em quên mất cách lo cho bản thân mình để chỉ băn khoăn mỗi khi trời trở lạnh, anh có giữ đủ ấm cho đôi tay? Mùa đông trở mình giữa cái xám ngắt đất trời, giữa những nỗi niềm chỉ mình em hiểu. Mùa đông hát cho em nghe bản tình ca của gió lạnh, của mưa bay. Em bỗng thấy chiều nay, lòng buồn theo gió thổi.

Em lạc vào tình yêu gói tròn trong lớp áo dày. Em lạc vào những thổn thức tin yêu của trái tim, yêu một người chẳng cần được đáp lại, yêu một người trong nỗi cô đơn ngấm dần mỗi khi mùa về chênh vênh.

Em muốn lôi bản thân mình quay trở về đúng con đường đang đi : con đường chỉ có riêng em, con đường đi về phía không anh. Vậy mà những nỗi nhớ thương cứ âm thầm kéo em vào vòng xoáy của cảm xúc, kéo em vào giấc mơ hằng đêm giật mình tưởng rằng anh vẫn ở đây. Liệu rằng có khi nào anh quay về bên em?

Em thương chính mình khi lạc lõng giữa mùa đông, em thương tình yêu nặng lòng không thể dứt bỏ.

Em thương một ngày nhiều gió lạnh, đi về phía bên kia thành phố, mặc kệ đôi tay chơi vơi chẳng biết níu vào đâu.

Có phải bởi vì em vẫn cứ mãi lạc vào miền cảm xúc có anh?
'Không có người phụ nữ nào đủ cao thượng lại có thể ca ngợi tình yêu của người chồng cũ với một người phụ nữ khác' - nhà báo Lưu Minh Vũ – con trai của cố nhà thơ Lưu Quang Vũ và nữ nghệ sĩ Tố Uyên cho biết.

- Anh đã từng nói thời nhỏ, anh sống với má Quỳnh nhiều hơn cả mẹ Uyên? Vì sao thế?

- Bố mẹ tôi chia tay năm tôi lên 2 tuổi, tòa xử tôi ở với mẹ, và bố tôi tất nhiên phải có trách nhiệm với tôi. Hồi bé, bà nội tôi ở cùng một khu tập thể, cùng tầng, tôi nhớ là cứ chạy lên chạy xuống, không ở với ai nhiều hơn, tôi hay lên với bà nội, vì còn có các cô các chú.
Năm tôi học cấp 1, tôi theo mẹ sang ở nhà mới, hình như vào đầu năm 1976, nhưng tôi vẫn sang bà, sang bố má luôn, vì Khu tập thể 96 Phố Huế vẫn là nơi tôi sinh ra và lớn lên, và ở nơi mới, mẹ tôi cũng đâu phải chỉ sống 1 mình, bà cũng đã có 1 gia đình mới. Khi đã lớn học cấp 2 (1980), tôi sang ở hẳn với bố, cho đến khi bố má mất đi, tính cụ thể về thời gian vật chất, tôi ở với bố và má Quỳnh nhiều hơn.
'Đừng để mẹ tôi nói về Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ!'
Nhà báo Lưu Minh Vũ và mẹ, nghệ sĩ Tố Uyên.
- Má Quỳnh đã chăm sóc cho anh như thế nào?
- Sự chăm sóc của má Quỳnh kể ra thì cũng như bao người mẹ khác nhưng cao hơn đó là tình cảm của người mẹ dành cho con riêng của chồng, như trong câu thơ má tôi đã từng viết: ”Con làm bằng yêu thương/ Của cha và của mẹ / Của bà và của ông/ Của má nữa - biết không/ Con làm bằng tất cả” (Cắt nghĩa tặng Lưu Minh Vũ - Chùm thơ xuân cho 3 con nhỏ).
Tôi chỉ xin kể một kỷ niệm mà bất cứ người con nào cũng thèm muốn ở người mẹ thứ hai của mình: Má nhổ răng cho tôi, ngày đó làm gì có đi bác sĩ như bây giờ, má pha sẵn nước muối, để một ít bông, nhổ răng bao giờ cũng sợ, nhưng má bảo không sao đâu, má chỉ xem nó lung lay thế nào thôi, trên gác có cái gì kìa, tôi ngẩng lên nhìn, thế là xong..., tôi nhớ là từ bé tôi chưa phải đến nha sĩ bao giờ, má tự nhổ những cái răng sữa của tôi. Rồi chuyện cắt tóc cho tôi đến việc họp phụ huynh, chuyện đưa tôi đi bệnh viện, chuyện vá quần vá áo, bình thường đối với người mẹ, nhưng cao cả hơn vì đó là tình cảm cho một đứa trẻ do một người khác sinh ra với chồng của mình.
- Khi nhìn thấy sự chăm chút của Xuân Quỳnh dành cho anh, mẹ anh – DV Tố Uyên có biểu hiện gì?
- Tôi còn nhỏ nên chỉ vô tư đón nhận sự chăm sóc của mọi người dành cho mình mà không có sự quan sát kiểu soi mói như vậy.
- Kỉ niệm nào về má Quỳnh khiến anh nhớ nhất?
- Có rất nhiều, hàng chục năm nay cứ lăn đi lăn lại trong đầu tôi, những hình ảnh về má. Có lẽ đây là một kỷ niệm, mà tôi cũng chưa kể với ai: năm lên 9 tuổi (1979), tôi bị mổ ruột thừa ở Bệnh viện Việt - Đức.
Mổ xong lần thứ nhất bị nhiễm trùng nên lại phải mổ lần thứ hai. Tôi bị tiêm kháng sinh, đau lắm, mà hồi đó chỉ tiêm vào đùi thôi, ngày 2 lần, vết tiêm lúc nào cũng bị sưng lên như cái chén. Má Quỳnh lần nào tiêm xong cũng lấy nước nóng chườm cho tôi đỡ đau, nước nguội lại thay, và má là người đã ở bên tôi trong suốt 1 tháng nằm viện.
'Đừng để mẹ tôi nói về Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ!'
Vợ chồng Lưu Quang Vũ - Xuân Quỳnh.
- Anh thấy tình cảm của bố Lưu Quang Vũ dành cho má Quỳnh thế nào?
- Còn nhỏ nên tôi không để ý tình cảm của hai người, nhưng khi biết nhận thức và suy nghĩ tôi biết họ sinh ra là để cho nhau, cùng nhau vượt qua những năm tháng gian nan lận đận nhất, tôi nhớ mãi hình ảnh bố tôi viết trên cái bàn thấp, còn má thì đặt giấy lên chân mà viết. Tôi nhớ cả hình ảnh má tôi xin được ruột bút bi, dùng giấy quấn lại làm quản bút để hai người viết.
- Mẹ Tố Uyên có lần kể: Xuân Quỳnh vứt quần áo Minh Vũ đi vì Minh Vũ nhỏ, chơi và bày đồ lung tung khắp nhà Xuân Quỳnh. Thực hư chuyện đó như thế nào?
- Chắc chắn là không có chuyện đó, và đây là lần đầu tiên tôi nghe một chuyện mà không bao giờ tôi nghĩ là có như vậy.
- Một người là diễn viên tài sắc, người vợ đầu tiên của Lưu Quang Vũ, một người là nhà thơ nổi tiếng và cũng là bạn đồng hành, đồng chí hướng với bố. Theo anh, ai có ảnh hưởng nhiều hơn tới cuộc sống và sự nghiệp của bố Lưu Quang Vũ? Tình cảm Lưu Quang Vũ dành cho ai nhiều hơn?
- Dễ để nhìn thấy câu trả lời trong những gì bố tôi đã để lại. Trước tiên về sự so sánh tình cảm dành cho ai nhiều hơn thì không thể. Hai người lần lượt là hai người mà bố tôi yêu thương và chung sống.
Thật đẹp mối tình đầu của bố tôi và mẹ, ông đã từ bỏ tất cả để đến với mẹ tôi, để được làm người chồng của mẹ tôi, nhưng rồi hoàn cảnh và theo tôi tính cách, cách cảm nhận cuộc sống của 2 người không thể sống chung với nhau được. Tôi có thể thấy phần nào mẹ tôi trong những nhân vật truyện ngắn của bố tôi sau này, truyện Hoa Xuyến ChiMùa hè đang đến.
Chia tay, chính trong thời gian ấy mà bố đã có những vần thơ ”ngời ngợi sáng, thứ ánh sáng không quá chói chang mà thánh thiện, trong lành chỉ có ở ngọc trai được ngậm bằng những nỗi đau lắng lại tự nhiên sau bao con sóng vật vã của biển Đời” (Thơ tình Lưu Quang Vũ - Nhà phê bình văn học Nguyễn Thị Minh Thái). Thật buồn khi người con trai phải nói lên điều này: Chính sự chia tay đó, trong thời gian mà tâm hồn bố tôi như “một tấm gương chẳng biết soi gì” ấy lại mang đến cho gia tài thơ của ông những bài thơ trác tuyệt nhất.
Còn sự ảnh hưởng của má Quỳnh đến sự nghiệp sáng tác của bố tôi thì đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, sách chuyên luận và nhiều bài báo đề cập và lý giải về vấn đề này. Theo tôi, để tìm được viên ngọc trong đá, thì má tôi phải có tình yêu và đức hy sinh lớn lao mà không ai có thể làm hoen ố được.
'Đừng để mẹ tôi nói về Xuân Quỳnh - Lưu Quang Vũ!'
Đám cưới Lưu Quang Vũ và Tố Uyên.
- Có gì khác biệt trong cuộc sống của bố khi sống cùng với mẹ Uyên và khi sống cùng má Quỳnh không?
- Thật khó trả lời, bởi vì khi bố mẹ còn ở với nhau thì tôi quá nhỏ, thời gian lại không dài. Lúc đó bố tôi cũng ít làm thơ, chỉ khi chia tay và sống với những năm tháng ”viển vông, cay đắng u buồn” thì bố mới sáng tác nhiều hơn. Và khi sống với má, thì bố đã sống và cống hiến đủ đầy trên nhiều lĩnh vực.
- Khi nghe tin Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh và Mí gặp tai nạn, anh và mẹ Tố Uyên đã phản ứng như thế nào?
- Thật khó để bạn hiểu hết được cảm giác của người vừa cùng một lúc mất ba người thân. Còn mẹ Tố Uyên lúc đó tôi không biết, vì tôi không ở cạnh bà.
- Ngày đưa tang họ, mẹ Tố Uyên có tới không?
- Mẹ tôi có tới, và để trở, đeo tang. Tôi nhớ, khi ấy, cả nhà còn giấu bà nội tôi về cái chết oan nghiệt. Sau này khi xem ảnh đám tang và nghe kể, bà nội tôi giận lắm khi biết mẹ tôi dám đeo tang, bà nói đại ý rằng: Bố tôi đã li dị với mẹ tôi rồi. Tức là bố tôi chỉ có một người vợ duy nhất, ai cho phép người vợ đã li dị đeo tang. Cả nhà tôi phải can và giải thích với bà, nghĩa tử là nghĩa tận, lúc đó tang gia bối rối chẳng ai còn nghĩ được gì cả.
- Thường thì con cái sẽ luôn đứng về phía mẹ. Nhưng những phóng viên đã từng phỏng vấn, tiếp xúc với anh nói rằng họ có cảm giác tình cảm anh dành cho Xuân Quỳnh nhiều hơn mẹ mình? Điều đó đúng hay sai? Tại sao? Điều gì ở Xuân Quỳnh đã chinh phục trái tim anh?
- Tôi có hai người mẹ và tôi ơn cả hai người. Tình cảm biểu hiện có thể khác nhau nhưng nói chuyện so sánh hơn kém ở đây tôi thấy không cần thiết và có phần bất nhẫn .
- Gần đây, Tố Uyên có trả lời phỏng vấn, trong đó đề cập đến việc Lưu Quang Vũ không yêu Xuân Quỳnh, sống với Xuân Quỳnh vì nghĩa nhiều hơn vì tình. Anh đã rất bức xúc với thông tin đó? Như vậy có nghĩa là Tố Uyên đã nói sai sự thật?
- Giờ mới chính là điều cần bàn tới. Chưa đề cập đến việc ai đúng ai sai, trước tiên, tôi muốn nói với người đã đưa ra câu hỏi phỏng vấn và với Ban Biên tập tờ báo đó rằng: Khi quý vị nhận được một câu trả lời như vậy mà chưa kiểm chứng, chưa xác định mức độ chính xác, chưa nhận thức được hậu quả mà câu nói đó mang lại, mà đã vội vã đưa lên mặt báo, tức là quý vị đã xúc phạm đến những người đã khuất, đáng trách hơn đó lại là những người mà cống hiến của họ đã được nhân dân và nhà nước công nhận. Bởi vì, những câu trả lời trong bài phỏng vấn có rất nhiều chi tiết và hoàn cảnh không có thực. Người chết thì không nói được, chỉ có những gì họ để lại và tình cảm của những người còn sống dành cho họ thôi.
Bố tôi - nhà thơ, nhà văn, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ và má tôi - nhà thơ Xuân Quỳnh đã yêu nhau, đã cháy hết mình cho nhau. Điều đó thể hiện quá rõ trong cuộc đời cũng như trong những vần thơ của cả hai người. Nếu không có tình yêu rất sâu sắc dành cho nhau thì họ không thể để lại cho chúng ta những trang viết đầy tình cảm như thế được.
Theo tôi: tình yêu của hai người là hình mẫu, là lý tưởng cho những người biết yêu nhau, biết vì nhau và cùng nhau làm nên một sự nghiệp văn chương lớn lao. Những đồng nghiệp đã cho đăng tải bài phỏng vấn, các bạn chắc ít nhất cũng đã từng có một lần đọc những bài thơ Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ viết cho nhau, lẽ ra các bạn phải thấy đó là những lời sai sự thật chứ ?!
- Nghệ sĩ Tố Uyên có nói Xuân Quỳnh chính là người thứ ba khiến tình cảm của bố mẹ anh rạn vỡ. Theo anh, đó có phải là nguyên nhân?
- Nói như vậy là tủi hổ đến vong linh người đã khuất. Tôi khẳng định không phải. Bố mẹ tôi ly dị có sự đồng ý của pháp luật – Tòa án - khi tôi chưa đầy 2 tuổi. Sau khi chia tay, hai người có cuộc sống riêng. Bố tôi lấy má tôi vào năm 1974. Mẹ tôi và má tôi là 2 giai đoạn hoàn toàn tách rời trong cuộc đời ngắn ngủi của bố tôi.
- Kết hôn với Xuân Quỳnh, một người phụ nữ hơn tuổi, bố anh đã bao giờ ân hận hay cảm nhận sự cách biệt trong suy nghĩ và lối sống?
- Câu này tôi xin phép không trả lời. Cũng giống như nhiều câu hỏi trong bài phỏng vấn ở tập san tôi đã nhắc tới ở trên, tôi tự nhủ không nên đọc nó, coi như nó chưa bao giờ có. Bây giờ tôi xin phép được nói vài lời cuối:
Sự thật cần phải được tôn trọng. Với tất cả tinh thần xây dựng, hợp tác, trên cả tình đồng nghiệp nữa, tôi mới nói những lời từ ruột gan mình như thế này, đã có rất nhiều cuộc phỏng vấn nhưng chưa bao giờ tôi trải lòng như lúc này, bởi bài báo đó đã xúc phạm đến những người tôi yêu thương, vì họ mà tôi còn tồn tại, và thay họ có mặt trên cõi đời này.
Tôi xin đề nghị các đồng nghiệp của tôi: Không nên để mẹ tôi nói về Xuân Quỳnh và Lưu Quang Vũ, bởi vì không thể có người phụ nữ nào đủ cao thượng lại có thể ca ngợi tình yêu của người chồng cũ với một người phụ nữ khác. Nếu các bạn viết thì đó là một sai lầm nghiêm trọng, là sự xúc phạm không chỉ với những người đã nằm xuống dưới ba tấc đất mà còn xúc phạm đến những người vẫn đang sống, vẫn hít thở thứ không khí trong lành cùng với các bạn.
Bố má tôi là những nghệ sĩ mà cuộc đời và sự nghiệp đã được khắc ghi vào sự nghiệp văn học của đất nước, của dân tộc. Để nói về họ cần phải tìm hiểu, suy luận, cân nhắc... cho dù chỉ là qua một bài phỏng vấn.
Người chết không nói được, không thanh minh được, nhưng tôi tin là họ vẫn biết. Tôi luôn cầu mong họ tha thứ cho những việc làm sai lầm của người đang sống.
Nếu tôi có nói gì quá nặng lời thì mong các bạn bỏ quá.

Nguồn: http://news.zing.vn/Dung-de-me-toi-noi-ve-Xuan-Quynh--Luu-Quang-Vu-post79082.html